Mã số N3023: Khơi thông dòng vốn đổi mới sáng tạo

  - Chia sẻ:    
Từ những startup sở hữu công nghệ nhưng khó tiếp cận tín dụng đến các doanh nghiệp có dự án khả thi nhưng thiếu tài sản bảo đảm, bài toán vốn đang đặt ra yêu cầu đổi mới cách tiếp cận tài chính cho nền kinh tế tri thức.

Nhóm nghiên cứu phát triển công nghệ trong phòng thí nghiệm, trong khi giá trị của các tài sản trí tuệ này vẫn gặp khó khăn khi được định giá và sử dụng làm tài sản bảo đảm.

Bài 1: Startup mắc kẹt trước "bức tường" thế chấp

Sở hữu công nghệ, bằng sáng chế và có sản phẩm được thị trường đón nhận, nhiều startup tại TP Hồ Chí Minh vẫn khó tiếp cận tín dụng khi cần mở rộng quy mô. Giá trị doanh nghiệp chủ yếu nằm ở tài sản trí tuệ, dữ liệu và thuật toán, trong khi ngân hàng thiếu cơ sở định giá và xử lý các tài sản này nếu khoản vay phát sinh rủi ro.

Có thị trường vẫn thiếu vốn mở rộng

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, TP Hồ Chí Minh đang triển khai các chính sách hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tín dụng và huy động nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, từ một sản phẩm công nghệ có tiềm năng đến khả năng tiếp cận vốn vẫn còn khoảng cách lớn, nhất là với doanh nghiệp không có nhiều đất đai, nhà xưởng hoặc tài sản hữu hình.

Tại Công ty Cổ phần BenKon, nhu cầu vốn tăng nhanh khi doanh nghiệp chuyển từ giai đoạn phát triển sản phẩm sang mở rộng thị trường. Ông Trương Minh Đạt, đồng sáng lập, Giám đốc Công ty Cổ phần BenKon cho biết, doanh nghiệp đã trải qua ba năm phát triển sản phẩm và hơn hai năm thương mại hóa.

Theo doanh nghiệp, BenKon hiện nắm giữ bảy hồ sơ sáng chế, trong đó có hai bằng sáng chế cốt lõi về công nghệ kết nối mạng lưới vạn vật Bluetooth Mesh được cấp tại Việt Nam. Giải pháp quản lý năng lượng của doanh nghiệp đã được triển khai tại hệ thống bán lẻ lớn sau quá trình thử nghiệm.

Tuy nhiên, khi số lượng đơn hàng tăng, áp lực vốn lưu động cũng xuất hiện. Với mô hình triển khai hệ thống Internet vạn vật (IoT) để quản lý, tối ưu năng lượng, chi phí đầu tư khoảng 10 triệu đồng cho mỗi cơ sở. Từ lúc ký hợp đồng đến sản xuất, lắp đặt mất khoảng 15 - 45 ngày; tiếp đó là thời gian nghiệm thu 45 - 60 ngày và chờ thanh toán từ 60 - 90 ngày.

Ông Trương Minh Đạt, đồng sáng lập, Giám đốc Công ty Cổ phần BenKon, chia sẻ về quá trình phát triển công nghệ và nhu cầu vốn để mở rộng mô hình kinh doanh.

Chu kỳ thu tiền kéo dài khiến doanh nghiệp phải ứng trước chi phí sản xuất, nhân công và lắp đặt. Áp lực càng lớn khi khách hàng chủ yếu là doanh nghiệp quy mô lớn, áp dụng điều khoản thanh toán trả chậm.

Ở mô hình cung cấp dịch vụ làm mát CaaS, BenKon trực tiếp đầu tư hệ thống điều hòa và chi phí lắp đặt, sau đó thu tiền dịch vụ định kỳ trong thời gian từ 5 đến 10 năm. Suất đầu tư cho mỗi cơ sở khoảng 1,3 tỷ đồng. Theo phương án tài chính do doanh nghiệp xây dựng, để triển khai tại 50 cơ sở cần khoảng 65 tỷ đồng, với tỷ suất hoàn vốn nội bộ dự kiến khoảng 25%.

Ông Trương Minh Đạt cho rằng, khó khăn đầu tiên không hẳn nằm ở lãi suất mà là khả năng tiếp cận khoản vốn đủ lớn và kịp thời. Doanh nghiệp có thể chấp nhận chi phí vốn thương mại nếu dự án bảo đảm hiệu quả, nhưng hạn mức tín dụng hiện có chưa đáp ứng nhu cầu mở rộng.

Bài toán tương tự cũng xuất hiện trong lĩnh vực công nghệ giáo dục. Công ty Cổ phần Dream Viet Education, đơn vị chủ quản Kyna English, bắt đầu xây dựng nền tảng đào tạo trực tuyến từ năm 2015 và chuyển trọng tâm sang đào tạo tiếng Anh trực tuyến có giáo viên từ năm 2021.

Nhu cầu vốn tăng theo quy mô đầu tư, theo chia sẻ của ông Trương Minh Đạt, đồng sáng lập, Giám đốc Công ty Cổ phần BenKon.

Bà Hồ Hồng Bảo Trâm, đồng sáng lập, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Dream Viet Education cho biết, nền tảng hiện có hơn 300.000 học viên tại tám quốc gia và hơn 100 khách hàng là doanh nghiệp, trường học. Doanh nghiệp cũng phát triển Kyna AI Tutor, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phân tích phát âm, hỗ trợ sửa lỗi và luyện nói.

Sau các vòng gọi vốn Series A và Series B, Kyna English vẫn cần nguồn tín dụng ổn định để duy trì máy chủ, phát triển thuật toán và mở rộng mạng lưới giáo viên. Tuy nhiên, phần lớn giá trị của nền tảng nằm ở dữ liệu, phần mềm, thuật toán, lượng người dùng và năng lực vận hành. Đây là những tài sản không dễ chuyển thành tài sản bảo đảm như bất động sản hoặc máy móc.

Thực tế của BenKon và Kyna English cho thấy, nhu cầu vốn không dừng lại ở thời điểm hình thành ý tưởng. Khi sản phẩm đã được thương mại hóa, doanh nghiệp cần thêm vốn lưu động, đầu tư thiết bị, phát triển hệ thống và mở rộng thị trường. Trong khi đó, tài sản hữu hình và dòng tiền tích lũy thường chưa theo kịp tốc độ phát triển.

Tài sản vô hình khó trở thành tài sản bảo đảm

Khó khăn trong tiếp cận vốn không chỉ xuất hiện ở doanh nghiệp công nghệ năng lượng. Trong lĩnh vực công nghệ giáo dục (EdTech), giá trị doanh nghiệp chủ yếu nằm ở nền tảng, dữ liệu và thuật toán nên việc đáp ứng các điều kiện tín dụng truyền thống cũng không dễ dàng.

Công ty Cổ phần Dream Viet Education, đơn vị chủ quản nền tảng Kyna English, bắt đầu xây dựng nền tảng đào tạo kỹ năng trực tuyến dành cho sinh viên và người đi làm từ năm 2015. Đến năm 2021, doanh nghiệp chuyển trọng tâm sang đào tạo tiếng Anh trực tuyến với giáo viên.

Bà Hồ Hồng Bảo Trâm, đồng sáng lập, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Dream Viet Education - Kyna English cho biết, nền tảng hiện có hơn 300.000 học viên tại tám quốc gia, phục vụ hơn 100 khách hàng là doanh nghiệp và trường học. Theo thông tin doanh nghiệp cung cấp, doanh thu duy trì mức tăng trưởng 111% mỗi năm.

Từ nhu cầu của người học, Kyna phát triển nền tảng Kyna AI Tutor, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ tương tác, sửa lỗi, phân tích phát âm và luyện nói theo tình huống. Công nghệ này được kết hợp với mô hình lớp học đảo ngược và mạng lưới hơn 6.000 gia sư, giáo viên trên toàn cầu.

Trong năm 2026, doanh nghiệp đặt mục tiêu mở rộng sang Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Campuchia; đồng thời hướng tới ứng dụng AI trong hệ thống trường học tại TP Hồ Chí Minh từ năm học 2026 - 2027. Thông qua mô hình Hybrid kết hợp học trực tiếp và trực tuyến, Kyna English đặt mục tiêu vận hành khoảng 18.000 lớp học trực tuyến mỗi ngày.

Để thực hiện kế hoạch này, doanh nghiệp cần nguồn lực duy trì hệ thống máy chủ, phát triển thuật toán AI và mở rộng mạng lưới giáo viên. Dù đã gọi vốn qua các vòng Series A và Series B, Kyna English vẫn quan tâm đến nguồn tín dụng ổn định, có chi phí phù hợp với hoạt động dài hạn.

Mô hình lớp học Hybrid tại trường học. Nguồn: Kyna

Khó khăn nằm ở chỗ phần lớn tài sản tạo nên giá trị của doanh nghiệp là tài sản vô hình. Dữ liệu phục vụ đào tạo AI, thuật toán nhận diện giọng nói, phần mềm và hệ thống công nghệ có thể phục vụ lượng lớn người dùng nhưng khó định giá, chuyển nhượng và xử lý như đất đai, nhà xưởng hoặc phương tiện vận tải.

Pháp luật hiện hành đã cho phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, theo thông tin được Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam công bố sau cuộc họp với Cục Sở hữu trí tuệ và các đơn vị liên quan đầu năm 2026, hoạt động nhận thế chấp loại tài sản này trên thực tế vẫn còn hạn chế.

Khoảng cách giữa cách doanh nghiệp nhìn nhận giá trị công nghệ và mức giá ngân hàng có thể chấp nhận hiện khá lớn. Ông Lưu Hải Minh, Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ mới Nhật Hải cho biết, doanh nghiệp sở hữu 80 bằng sáng chế đã được cấp và có 160 đơn đăng ký, với tổng kinh phí đầu tư nghiên cứu khoảng 2 triệu USD. Tuy nhiên, khi cần vay vốn xây dựng nhà máy để thương mại hóa sản phẩm, doanh nghiệp vẫn được yêu cầu có tài sản bảo đảm là bất động sản.

Theo ông Minh, tài sản lớn nhất của doanh nghiệp khoa học và công nghệ là sáng chế. Nếu vừa phải dành nguồn lực nghiên cứu vừa tích lũy bất động sản để đáp ứng điều kiện vay vốn, doanh nghiệp sẽ gặp khó khi đưa sản phẩm ra thị trường.

Ông Vũ Đức Lợi, Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc cho rằng, định giá là một trong những nút thắt lớn. Cùng một công nghệ, đơn vị trong nước có thể định giá vài tỷ đồng dựa trên chi phí đầu tư, trong khi tổ chức nước ngoài có thể xác định giá trị hàng triệu USD dựa trên tiềm năng thị trường và dòng tiền tương lai. Sự chênh lệch giữa các phương pháp khiến doanh nghiệp và ngân hàng khó thống nhất mức giá làm căn cứ cấp tín dụng.

Theo Cục Sở hữu trí tuệ, Việt Nam hiện thiếu tổ chức định giá chuyên nghiệp, dữ liệu giao dịch để so sánh và hệ thống tiêu chuẩn được các ngân hàng chấp nhận thống nhất. Giá trị của sáng chế, phần mềm hoặc nhãn hiệu còn phụ thuộc vào khả năng thương mại hóa, nhu cầu thị trường và tốc độ thay đổi công nghệ. Một sản phẩm có thể được đánh giá cao khi kinh doanh thuận lợi nhưng nhanh chóng mất giá nếu phương án thất bại hoặc xuất hiện công nghệ thay thế.

Ông Nguyễn Đăng Hồng Minh, Trưởng phòng Pháp chế Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chia sẻ, tính thanh khoản và biến động giá trị là những nguyên nhân khiến ngân hàng thận trọng. Không giống bất động sản, giá trị tài sản trí tuệ thường gắn trực tiếp với hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp mất khả năng trả nợ, việc tìm người mua một sáng chế, thuật toán hoặc nhãn hiệu để thu hồi vốn không đơn giản.

Từ giá trị công nghệ đến khả năng tiếp cận vốn, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo vẫn cần những cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù tài sản và mô hình kinh doanh.

Rủi ro pháp lý cũng là một điểm nghẽn. Bà Nguyễn Thị Phương, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Pháp chế Ngân hàng, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, các quy định hiện nay chủ yếu dừng ở khung pháp lý chung, chưa có hướng dẫn riêng về hồ sơ, quy trình nhận thế chấp, định giá và xử lý quyền sở hữu trí tuệ. Việc liên thông dữ liệu giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và Cục Sở hữu trí tuệ chưa đầy đủ khiến ngân hàng khó kiểm tra tình trạng pháp lý của tài sản.

Bên cạnh đó, định giá sai hoặc cao hơn giá trị thực có thể làm phát sinh trách nhiệm đối với cán bộ thẩm định, nhất là tại các ngân hàng có vốn nhà nước. Áp lực này khiến tổ chức tín dụng càng thận trọng trước loại tài sản chưa có giá tham chiếu và thị trường chuyển nhượng rõ ràng.

Thực tế từ BenKon, Kyna English và các doanh nghiệp sở hữu sáng chế cho thấy nhu cầu vốn tăng mạnh khi sản phẩm bước vào giai đoạn thương mại hóa, trong khi tài sản bảo đảm truyền thống và dòng tiền tích lũy chưa theo kịp. Các quỹ đầu tư mạo hiểm lại có khẩu vị rủi ro và kỳ vọng tăng trưởng khác với doanh nghiệp cần vốn cho phần cứng, hạ tầng hoặc hoạt động dài hạn.

Để tài sản trí tuệ từng bước trở thành nguồn lực tài chính, các chuyên gia cho rằng cần xây dựng tiêu chuẩn định giá, cơ sở dữ liệu giao dịch và thị trường chuyển nhượng công nghệ. Trong điều kiện các mắt xích này chưa hoàn chỉnh, cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro được kỳ vọng giúp doanh nghiệp tiến gần hơn đến nguồn vốn tín dụng.

Tại TP Hồ Chí Minh, các chương trình hỗ trợ lãi suất và bảo lãnh tín dụng đang được triển khai nhằm tháo gỡ một phần khó khăn về vốn, tài sản bảo đảm. Những công cụ này sẽ được phân tích trong bài tiếp theo của loạt bài.

Bài 2: Mở cửa tín dụng bằng vốn mồi và bảo lãnh

Trước khó khăn về chi phí vay và tài sản thế chấp, TP Hồ Chí Minh đang triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất cùng cơ chế bảo lãnh tín dụng. Hai công cụ hướng đến các doanh nghiệp có dự án khả thi nhưng chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện vay vốn theo phương thức truyền thống.

TP Hồ Chí Minh triển khai các cơ chế hỗ trợ lãi suất và bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp có dự án khả thi nhưng hạn chế về tài sản bảo đảm.

Giảm chi phí vốn bằng hỗ trợ lãi suất

Năm 2026, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của TP Hồ Chí Minh lần đầu tiên vào Top 100 toàn cầu, xếp thứ 98 theo StartupBlink, tăng 12 bậc so với năm 2025. Để các ý tưởng và sản phẩm công nghệ có thể chuyển sang giai đoạn thương mại hóa, Thành phố đang tìm cách đưa những chính sách tài chính hiện có đến gần hơn với doanh nghiệp.

Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội cho phép HĐND TP Hồ Chí Minh bố trí vốn đầu tư công từ ngân sách Thành phố để hỗ trợ lãi suất đối với các dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên, được Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TP Hồ Chí Minh (HFIC) cho vay.

Trên cơ sở đó, HĐND Thành phố ban hành Nghị quyết số 09/2023/NQ-HĐND ngày 19/9/2023 về hỗ trợ lãi suất đối với các dự án đầu tư được HFIC cho vay thuộc lĩnh vực ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội. Quyết định số 42/2024/QĐ-UBND ngày 19/7/2024 của UBND Thành phố quy định việc triển khai chính sách này.

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, HĐND Thành phố tiếp tục ban hành Nghị quyết số 523/NQ-HĐND ngày 26/12/2025 về việc áp dụng Nghị quyết số 09 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh sau sắp xếp. Nhờ đó, chính sách được tiếp tục thực hiện trên không gian phát triển mới của Thành phố.

Vừa qua, TP Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo “HFIC & Quỹ Bảo lãnh tín dụng - Cánh cửa vốn cho startup và doanh nghiệp nhỏ và vừa”, nhằm giới thiệu các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn.

Ông Nguyễn Hà Lam, Phó Trưởng phòng Kế hoạch - Nghiên cứu phát triển HFIC cho biết, HFIC đóng vai trò đầu mối cho vay hoặc cho vay hợp vốn, trong khi ngân sách Thành phố hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ lãi suất đối với dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên.

Mức vốn vay được hỗ trợ lãi suất tối đa là 200 tỷ đồng cho mỗi dự án. Trong đó, vốn đầu tư xây dựng công trình được xem xét tối đa bằng 70% tổng mức đầu tư của hạng mục; vốn đầu tư thiết bị, công nghệ tối đa 85%. Tùy từng lĩnh vực, mức hỗ trợ lãi suất từ 50% đến 100%, thời gian hỗ trợ tối đa 7 năm kể từ ngày giải ngân.

Mức lãi suất được hỗ trợ xác định dựa trên lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam kỳ hạn 12 tháng bình quân của bốn ngân hàng thương mại trên địa bàn, cộng phí quản lý 2% mỗi năm. Nếu lãi suất cho vay thực tế của HFIC thấp hơn mức tính theo cơ chế hỗ trợ, chính sách áp dụng theo lãi suất thực tế; nếu cao hơn, chủ đầu tư tự cân đối phần chênh lệch.

Để được xem xét, dự án phải phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố, được HFIC thẩm định về hiệu quả và khả năng trả nợ. Chủ đầu tư cũng chưa được ký hợp đồng với nhà thầu hoặc nhà cung cấp đối với hạng mục đề nghị hỗ trợ. Phần vốn vượt 200 tỷ đồng hoặc thời gian vay vượt 7 năm phải do chủ đầu tư tự thu xếp.

Như vậy, chính sách hỗ trợ lãi suất giúp doanh nghiệp giảm chi phí sử dụng vốn nhưng không đồng nghĩa dự án tự động được vay. Quyết định cấp tín dụng vẫn phụ thuộc vào tính khả thi, năng lực tài chính, dòng tiền trả nợ và kết quả thẩm định của HFIC cùng các tổ chức cho vay.

Chia sẻ rủi ro bằng bảo lãnh tín dụng

Nếu hỗ trợ lãi suất tác động vào chi phí vay thì bảo lãnh tín dụng hướng đến điểm nghẽn về tài sản bảo đảm. Công cụ này dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh khả thi nhưng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về tài sản thế chấp của tổ chức tín dụng.

Ngày 29/5/2026, UBND Thành phố ban hành Quyết định số 3204/QĐ-UBND về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hồ Chí Minh. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký, thay thế quy định được ban hành từ năm 2007. Theo điều lệ mới, Quỹ hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính, bảo đảm an toàn vốn và cấp bảo lãnh đối với các khoản vay đúng đối tượng, đủ điều kiện. Công báo TP Hồ Chí Minh

Quỹ có thể xem xét bảo lãnh tối đa 100% giá trị khoản vay, bao gồm vốn lưu động và vốn trung, dài hạn. Tuy nhiên, đây là mức trần, không phải mức được áp dụng mặc nhiên. Tỷ lệ bảo lãnh cụ thể phụ thuộc vào tính khả thi, mức độ rủi ro của dự án và khả năng tài chính của Quỹ.

Doanh nghiệp phải có vốn chủ sở hữu tham gia tối thiểu 20% giá trị dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh tại thời điểm thẩm định; không có khoản nợ thuế từ một năm trở lên và không có nợ xấu tại tổ chức tín dụng. Doanh nghiệp cũng phải thực hiện biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ được Quỹ bảo lãnh.

Điều lệ mới còn quy định tổng mức bảo lãnh vay vốn đầu tư đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn điều lệ thực có của Quỹ. Vì vậy, việc Quỹ có thể bảo lãnh tối đa 100% một khoản vay không có nghĩa mọi doanh nghiệp đều được bảo lãnh toàn bộ hoặc không phải chịu trách nhiệm đối với khoản vay.

Ông Phạm Huỳnh Quang Hiếu, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh.

Ông Phạm Huỳnh Quang Hiếu, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh cho biết, vốn vẫn là một trong những điểm nghẽn lớn đối với startup và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thành phố định hướng hình thành chuỗi vốn theo vòng đời doanh nghiệp, trong đó bảo lãnh tín dụng hỗ trợ giai đoạn doanh nghiệp mở rộng hoạt động nhưng chưa tích lũy đủ tài sản bảo đảm.

Trường hợp Công ty Cổ phần Kết Nối Văn Hóa Việt (VHV) cho thấy khả năng vận dụng các công cụ trên đối với dự án hạ tầng giáo dục. Doanh nghiệp đã hoạt động hơn 15 năm và hiện là chủ đầu tư Trường THCS và THPT Văn Hóa Việt cùng Trường Mầm non Hoàng Anh.

Ông Nguyễn Văn Điệp, Chủ tịch Hội đồng quản trị VHV cho biết, doanh nghiệp đang chuẩn bị dự án trường liên cấp mầm non, tiểu học, THCS và THPT tại xã Long Hải, TP Hồ Chí Minh. Dự án được xây dựng trên khu đất quy hoạch giáo dục rộng khoảng 10.000 m², dự kiến phục vụ khoảng 2.500 học sinh.

Theo phương án sơ bộ, VHV có nhu cầu khoảng 150 tỷ đồng vốn đầu tư mới. Trong đó, 62 tỷ đồng dành cho khối học tập và hành chính; 25 tỷ đồng cho khu nội trú, nhà ăn và bếp; 15 tỷ đồng cho thiết bị giáo dục, công nghệ thông tin, STEM và phòng thí nghiệm.

Khoảng 48 tỷ đồng còn lại được phân bổ cho các hạng mục khác, gồm 12 tỷ đồng xây dựng sân thể thao, cảnh quan và hạ tầng; 10 tỷ đồng trang bị nội thất cho khu ký túc xá, bếp và y tế; 8 tỷ đồng cho phòng cháy, chữa cháy, an ninh, điện nước; 6 tỷ đồng cho thiết kế, tư vấn, pháp lý và quản lý dự án; 4 tỷ đồng cho truyền thông, tuyển sinh; 8 tỷ đồng làm vốn lưu động và dự phòng.

Ngoài nhu cầu vốn đầu tư mới 150 tỷ đồng, doanh nghiệp dự kiến bố trí thêm khoảng 70 tỷ đồng vốn chủ sở hữu. Như vậy, tổng nguồn lực dự kiến dành cho dự án khoảng 220 tỷ đồng. VHV lưu ý đây mới là mô hình tiền khả thi; quy mô và cơ cấu vốn sẽ được xác định lại theo thiết kế, dự toán thực tế.

Theo phương án tài chính của VHV, dự án dự kiến đạt doanh thu 140,9 tỷ đồng vào năm hoạt động thứ tư và khoảng 170 tỷ đồng vào năm thứ năm; thời gian hoàn vốn mục tiêu từ 4,5 đến 5,5 năm. Khó khăn hiện nay là khu đất thực hiện dự án thuộc diện thuê Nhà nước có thời hạn, nên khả năng sử dụng quyền đối với đất để bảo đảm khoản vay lớn còn hạn chế.

HFIC và Bảo lãnh tín dụng là đòn bẩy tài chính cho Starup và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ảnh minh họa

Trường hợp VHV cho thấy hỗ trợ lãi suất và bảo lãnh tín dụng có thể mở thêm cơ hội huy động vốn cho các dự án thuộc lĩnh vực Thành phố ưu tiên. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải tham gia bằng vốn chủ sở hữu, chứng minh hiệu quả đầu tư, khả năng tạo dòng tiền và trả nợ. Chính sách hỗ trợ chỉ phát huy tác dụng khi dự án được chuẩn bị đầy đủ, số liệu tài chính minh bạch và đáp ứng yêu cầu thẩm định.

Với hai công cụ này, TP Hồ Chí Minh đang từng bước chia sẻ chi phí vốn và một phần rủi ro tín dụng với doanh nghiệp, thay vì hỗ trợ theo hướng cấp vốn trực tiếp. Dù vậy, vốn vay vẫn tạo ra nghĩa vụ trả nợ và không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu đầu tư dài hạn. Bên cạnh việc tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài, doanh nghiệp cần khai thác hiệu quả khoản tích lũy dành cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số. Đây cũng là nguồn vốn đang còn dư địa lớn nhưng chưa được sử dụng tương xứng tại TP Hồ Chí Minh.

Bài cuối: Đưa quỹ phát triển khoa học từ sổ sách vào dự án

Quỹ phát triển khoa học và công nghệ đã tạo ra nguồn vốn đáng kể ngay trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại TP Hồ Chí Minh, mới có 33,8% tổng số tiền trích lập được sử dụng. Việc tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, mở rộng phạm vi chi và kết nối nguồn quỹ với doanh nghiệp khởi nghiệp được kỳ vọng sẽ đưa nguồn vốn này vào các dự án cụ thể.

Doanh nghiệp cần nguồn lực tài chính dài hạn để đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số.

Đưa nguồn lực nội sinh vào hoạt động thực tế

Nếu tín dụng ngân hàng, hỗ trợ lãi suất và bảo lãnh tín dụng giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn bên ngoài, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tạo ra một nguồn lực được hình thành ngay trong doanh nghiệp. Nguồn vốn này có thể được sử dụng cho nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và một số hoạt động chuyển đổi số.

Ông Nguyễn Hữu Yên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh, cho rằng nguồn lực tài chính dành cho nghiên cứu, phát triển và đổi mới là một trong những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp chuyển hóa ý tưởng thành sản phẩm, công nghệ và dự án cụ thể.

Theo ông Nguyễn Hữu Yên, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ giúp doanh nghiệp chủ động bố trí nguồn lực cho các khoản đầu tư có chu kỳ dài. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở số tiền được trích lập mà còn ở khả năng sử dụng đúng quy định, thuận lợi, hiệu quả và phù hợp với nhu cầu đổi mới thực tế.

Số liệu của Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh cho thấy, thành phố có 271 doanh nghiệp đã thành lập, trích lập và sử dụng quỹ, với tổng số tiền trích lập lũy kế hơn 8.924 tỷ đồng. Trong đó, số tiền đã sử dụng khoảng 3.016,5 tỷ đồng, tương đương 33,8%.

Có 23 doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước, không sử dụng hết quỹ trong thời hạn 5 năm và đã thực hiện thủ tục điều chuyển khoảng 110 tỷ đồng về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Thành phố.

Ông Nguyễn Hữu Yên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh, phát biểu tại hội nghị gần đây.

Tỷ lệ sử dụng còn thấp cho thấy, doanh nghiệp không chỉ gặp khó khăn trong việc xác định dự án phù hợp mà còn vướng ở quy trình quản lý, chứng từ, nghiệm thu và xử lý tài sản hình thành từ nguồn quỹ.

Tại hội nghị do Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh tổ chức, đại diện một số doanh nghiệp đặt câu hỏi về cách chuyển tài sản được đầu tư bằng quỹ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; cách xác định đóng góp của khoa học và công nghệ đối với doanh thu; cơ chế thương mại hóa kết quả nghiên cứu và điều kiện sử dụng quỹ cho các dự án chuyển đổi số. Những vấn đề này phần nào lý giải vì sao doanh nghiệp có nguồn tiền nhưng còn thận trọng khi giải ngân.

Kế hoạch số 98/KH-UBND ngày 22/9/2025 của UBND TP Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đến năm 2030, ít nhất 50% tổng kinh phí quỹ của doanh nghiệp được sử dụng hiệu quả cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đến năm 2045, tỷ lệ này được đặt mục tiêu trên 70%.

Cùng với mục tiêu tăng tỷ lệ sử dụng, phạm vi hoạt động của quỹ đã được mở rộng. Theo Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, doanh nghiệp có thể sử dụng quỹ để trực tiếp thực hiện, đặt hàng hoặc thuê nghiên cứu; phát triển công nghệ, sở hữu trí tuệ; nâng cao năng lực khoa học và công nghệ; nghiên cứu ở nước ngoài; mua, sáp nhập, đầu tư hoặc cùng đầu tư vào dự án, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

Đối với hoạt động mua, sáp nhập, đầu tư hoặc cùng đầu tư vào dự án và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, mức sử dụng tối đa là 5% thu nhập tính thuế hằng năm. Doanh nghiệp cũng được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế hằng năm để lập quỹ theo quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Nếu trong thời hạn 5 năm, quỹ không được sử dụng, sử dụng không hết 70% hoặc sử dụng sai mục đích, doanh nghiệp phải nộp lại phần thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan cùng khoản lãi phát sinh.

Từ ngày 1/7/2026, theo Luật Chuyển đổi số, phạm vi sử dụng quỹ tiếp tục được mở rộng sang hoạt động chuyển đổi số. Đây là cơ sở để doanh nghiệp bố trí nguồn lực cho số hóa quy trình, phát triển dữ liệu, hệ thống quản trị và tự động hóa.

Để hỗ trợ doanh nghiệp, Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh đã xây dựng cẩm nang hướng dẫn thành lập, trích lập và sử dụng quỹ. Doanh nghiệp cần ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, xác định rõ thẩm quyền phê duyệt, quy trình nghiệm thu và lưu trữ hồ sơ để hạn chế rủi ro khi triển khai.

Tạo cầu nối vốn cho dự án khởi nghiệp

Quỹ phát triển khoa học và công nghệ được hình thành từ thu nhập tính thuế nên trước hết là nguồn lực của những doanh nghiệp đã có hoạt động sản xuất, kinh doanh tương đối ổn định. Trong khi đó, các doanh nghiệp khởi nghiệp thường cần vốn ngay từ giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm, đầu tư máy móc và xây dựng thị trường - thời điểm doanh thu, lợi nhuận chưa đủ để tích lũy nguồn quỹ riêng.

Câu chuyện của ông Phạm Đông Huy, người sáng lập dự án Sa kê Toàn Cầu và Sa kê Việt, phần nào cho thấy áp lực vốn mà một dự án đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp có thể gặp phải trên đường thương mại hóa.

Trong những năm đầu, ông Huy cùng cộng sự nhiều lần phải di dời cơ sở do những hạn chế về điện, nước, đường sá, diện tích và điều kiện môi trường. Một số máy móc được đầu tư với giá từ 50 - 120 triệu đồng nhưng sau đó phải thanh lý với giá khoảng 2 - 5 triệu đồng khi công nghệ và phương án sản xuất thay đổi.

Theo ông Phạm Đông Huy, có thời điểm doanh nghiệp phải duy trì 2 khoản vay thế chấp, 8 khoản vay tín chấp và khoảng 30 khoản vay từ bạn bè, người thân. Việc huy động vốn từ nhiều nguồn giúp dự án duy trì hoạt động nhưng đồng thời tạo áp lực lớn về lãi suất, dòng tiền và khả năng đầu tư dài hạn.

Sau quá trình cơ cấu lại các khoản nợ, giảm chi phí tài chính và từng bước hoàn thiện mô hình hoạt động, dự án đã thu hút sự quan tâm của hơn 30 nhà đầu tư, tập đoàn và quỹ. Nguồn lực mới được doanh nghiệp kỳ vọng sẽ hỗ trợ việc mở rộng vùng nguyên liệu, hoàn thiện công nghệ quản lý và phát triển sản phẩm.

Hiện Sa kê Toàn Cầu và Sa kê Việt hướng tới mô hình kết hợp sản xuất nông nghiệp với công nghệ và các giá trị kinh tế xanh. Theo kế hoạch của doanh nghiệp, ứng dụng Sake Crop Smart Management được phát triển để theo dõi nhu cầu nước, tình trạng cây trồng, hoạt động bón phân, sản lượng và tồn kho. Việc số hóa dữ liệu được kỳ vọng hỗ trợ quản lý vùng nguyên liệu trên quy mô lớn và kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất.

Ông Phạm Đông Huy (bên trái), người sáng lập dự án Sa kê Toàn Cầu và Sa kê Việt, giới thiệu công nghệ và sản phẩm tại một triển lãm.

Một hướng nghiên cứu khác của dự án là xây dựng hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định nhằm đánh giá giá trị carbon. Doanh nghiệ cho biết, việc nghiên cứu đánh giá vòng đời carbon được thực hiện trong giai đoạn 2022 - 2024 là cơ sở để dự án tiếp tục nghiên cứu khả năng tạo tín chỉ carbon từ vùng trồng sa kê.

Tuy nhiên, hướng phát triển này còn cần hoàn thiện dữ liệu, phương pháp đo lường, tiêu chuẩn thẩm định và các điều kiện giao dịch trước khi có thể thương mại hóa. Điều đó cũng cho thấy, các dự án đổi mới sáng tạo không chỉ cần vốn để mua sắm máy móc mà còn phải dành nguồn lực cho nghiên cứu, dữ liệu, thử nghiệm và hoàn thiện quy trình trong thời gian dài.

Với những doanh nghiệp khởi nghiệp chưa có nguồn thu ổn định, việc tự tích lũy Quỹ phát triển khoa học và công nghệ không dễ thực hiện. Vì vậy, quy định cho phép doanh nghiệp sử dụng một phần quỹ để đầu tư hoặc cùng đầu tư vào dự án, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo mở ra khả năng hình thành cầu nối giữa hai nhóm: Doanh nghiệp đã có nguồn lực tài chính và dự án đang cần vốn để hoàn thiện công nghệ, mở rộng thị trường.

Nguồn lực từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần tăng đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số.

Mối liên kết này còn có thể vượt ra ngoài quan hệ đầu tư vốn đơn thuần. Doanh nghiệp lớn có thể đặt hàng nghiên cứu, tiếp nhận công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng hoặc hỗ trợ dự án khởi nghiệp tiếp cận thị trường. Đổi lại, doanh nghiệp khởi nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ, sản phẩm mới hoặc mô hình kinh doanh phù hợp với nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp đầu tư.

Để dòng vốn này vận hành hiệu quả, doanh nghiệp cần có tiêu chí lựa chọn dự án, quy trình thẩm định và cơ chế giám sát rõ ràng. Việc đánh giá cũng cần dựa trên năng lực công nghệ, khả năng thương mại hóa, đội ngũ thực hiện và triển vọng thị trường, thay vì chỉ nhìn vào tài sản hữu hình.

Qua thực trạng trên, nhiều ý kiến cho rằng, không một công cụ tài chính đơn lẻ nào đáp ứng được nhu cầu vốn của mọi doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Ở giai đoạn nghiên cứu và thử nghiệm, doanh nghiệp thường cần vốn góp, quỹ đầu tư hoặc hỗ trợ từ các chương trình khoa học và công nghệ. Khi bước vào thương mại hóa, nhu cầu chuyển sang tín dụng, bảo lãnh và hỗ trợ lãi suất. Với doanh nghiệp đã có lợi nhuận, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ trở thành nguồn vốn nội sinh để tiếp tục đầu tư cho công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Bài toán của TP Hồ Chí Minh là kết nối những công cụ này thành một chuỗi hỗ trợ phù hợp với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Khi nguồn vốn được đưa đúng thời điểm, đúng dự án và dựa trên năng lực công nghệ, thị trường cùng khả năng tạo dòng tiền, đổi mới sáng tạo mới có thể chuyển thành sản phẩm, doanh thu và sức cạnh tranh thực chất.

Bài, ảnh: Lưu Niệm/Báo Tin Tức và Dân tộc - Thông Tấn Xã Việt Nam

Link Nguồn: 

Bài 1: https://baotintuc.vn/khoi-thong-dong-von-doi-moi-sang-tao-bai-1-startup-mac-ket-truoc-buc-tuong-the-chap-post553757.html

Bài 2: https://baotintuc.vn/khoi-thong-dong-von-doi-moi-sang-tao-bai-2-mo-cua-tin-dung-bang-von-moi-va-bao-lanh-post553749.html

Bài cuối: https://baotintuc.vn/khoi-thong-dong-von-doi-moi-sang-tao-bai-cuoi-dua-quy-phat-trien-khoa-hoc-tu-so-sach-vao-du-an-post553714.html