Mã số N3024: TP Hồ Chí Minh cụ thể hóa Nghị quyết 57

TP Hồ Chí Minh đang từng bước mở rộng không gian cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Bài 1: Mở không gian cho đổi mới sáng tạo
Từ những định hướng lớn về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, TP Hồ Chí Minh đang từng bước cụ thể hóa bằng các cơ chế, mô hình và công cụ mới. Mục tiêu không chỉ là tháo gỡ điểm nghẽn về nguồn lực, mà còn mở thêm không gian để doanh nghiệp, nhà khoa học và các tổ chức nghiên cứu tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển Thành phố.
Từ chủ trương đến những mô hình cụ thể
Trong nhiều năm, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là một trong những động lực quan trọng của phát triển. Tuy nhiên, để những định hướng đó thực sự đi vào cuộc sống, câu chuyện không chỉ nằm ở việc có chính sách, mà quan trọng hơn là chính sách phải tạo ra được những công cụ cụ thể để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, nhà khoa học có điều kiện nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu có cơ hội bước ra thị trường.
Với TP Hồ Chí Minh, quá trình này có một nền tảng quan trọng từ Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố. Trong đó, Điều 8 dành riêng cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với nhiều cơ chế liên quan đến tiền lương, thù lao thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ; hỗ trợ không hoàn lại cho dự án khởi nghiệp; miễn, giảm thuế đối với hoạt động khởi nghiệp sáng tạo và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
Việc mở rộng không gian cho đổi mới sáng tạo trước hết đòi hỏi thay đổi cách thức quản lý. Tại Ngày hội Công nghệ TP Hồ Chí Minh - Conviction 2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh: “Đặc biệt là tư duy quản lý nhà nước đã có sự chuyển biến mạnh mẽ từ kiểm soát quy trình đầu vào sang quản lý kết quả đầu ra”.
Theo Phó Thủ tướng, sự chuyển biến này thể hiện trong xây dựng thể chế, chính sách, từ quản lý hành chính cứng nhắc sang kiến tạo hệ sinh thái, hỗ trợ doanh nghiệp tạo ra sản phẩm cụ thể; đồng thời hình thành những cơ chế mới như công nghệ chiến lược, thử nghiệm có kiểm soát.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu tại Ngày hội Công nghệ TP Hồ Chí Minh - Conviction 2026.
Nghị quyết số 57-NQ/TW tiếp tục tạo thêm động lực để Thành phố đẩy nhanh quá trình này. Nếu Nghị quyết 98 mở ra không gian thử nghiệm về cơ chế, thì tinh thần của Nghị quyết 57 đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển.
Từ thực tiễn triển khai, TP Hồ Chí Minh xác định mình không chỉ là nơi thực hiện các chủ trương, mà còn có thể trở thành một “phòng thí nghiệm chính sách”, thử nghiệm những cách làm mới trước khi đánh giá, hoàn thiện và nhân rộng.
Từ góc nhìn của Trung ương, TP Hồ Chí Minh cũng được kỳ vọng phát huy vai trò tiên phong trong thử nghiệm những cách làm mới. Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, Chính phủ đặt niềm tin và kỳ vọng Thành phố “sẽ tiếp tục phát huy vai trò tiên phong, mở đường, trở thành nơi ươm mầm, thử nghiệm và lan tỏa những mô hình mới, những sản phẩm mới, cách làm mới”.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Sương, Trưởng Phòng Phát triển Khoa học Công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh), quá trình này đã bắt đầu tạo ra những kết quả cụ thể. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Thành phố năm 2026 đã vươn lên vị trí 98 trong bảng xếp hạng toàn cầu của StartupBlink, tăng 12 bậc và lần đầu tiên vào nhóm 100 thành phố có hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năng động nhất thế giới.
Đằng sau thứ hạng này là một loạt cơ chế đang được triển khai theo hướng tạo thêm nguồn lực cho nghiên cứu, khởi nghiệp và thương mại hóa công nghệ. Một trong những mô hình đáng chú ý là Quỹ đầu tư mạo hiểm của Thành phố. Quỹ có vốn điều lệ ban đầu 500 tỷ đồng, trong đó nguồn lực nhà nước là 200 tỷ đồng, được xây dựng theo mô hình công ty cổ phần. Thành phố đặt mục tiêu nâng quy mô Quỹ lên 5.000 tỷ đồng vào năm 2035.

Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang tham quan các gian hàng tại sự kiện ra mắt Quỹ đầu tư mạo hiểm của Thành phố.
Điểm đáng chú ý của mô hình này không chỉ nằm ở số vốn, mà ở cách Thành phố tìm kiếm một phương thức mới để đưa nguồn lực tài chính đến với những doanh nghiệp công nghệ và dự án đổi mới sáng tạo có tiềm năng tăng trưởng.
Đây cũng là một lĩnh vực không dễ triển khai. Đầu tư mạo hiểm luôn đi cùng rủi ro, trong khi việc sử dụng nguồn lực nhà nước đòi hỏi những quy định chặt chẽ về quản trị, đầu tư và chia sẻ rủi ro. Vì vậy, việc hình thành Quỹ cho thấy Thành phố đang từng bước thử nghiệm một công cụ tài chính mới thay vì chỉ dựa vào các hình thức hỗ trợ truyền thống. Sau quá trình chuẩn bị, Quỹ đã hoàn thiện bộ máy và dự kiến chính thức đi vào hoạt động trong tháng 9/2026. Hơn 50 startup đã được các tổ chức, chuyên gia và nhà đầu tư giới thiệu để kết nối với Quỹ.
Từ một góc nhìn khác, đây cũng là phép thử đối với khả năng biến chủ trương thành một công cụ vận hành thực tế. Không chỉ tạo nguồn vốn, Thành phố còn hướng tới việc tạo ra những “địa chỉ” để kết nối các thành phần của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đề án phát triển mạng lưới Trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế được ban hành theo Quyết định số 3190/QĐ-UBND ngày 15/12/2025 với mục tiêu kết nối doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, quỹ đầu tư và chuyên gia quốc tế.
Tại Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP Hồ Chí Minh (SIHUB, số 123 Trương Định), Thành phố đã lựa chọn 11 đơn vị trong số 65 hồ sơ đăng ký tham gia với tổng diện tích không gian sử dụng 1.645 m². Đây là một trong những bước nhằm hình thành không gian kết nối các dự án, doanh nghiệp, chuyên gia và nguồn lực đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện để ý tưởng và công nghệ có thêm cơ hội được phát triển, ứng dụng.
Thành phố cũng đã tuyển chọn hơn 600 dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và tổ chức hơn 100 chương trình đào tạo cho trên 4.500 lượt học viên. Những con số này cho thấy hệ sinh thái đang chuyển từ giai đoạn hình thành sang một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu không còn chỉ là có thêm dự án hay thêm sự kiện, mà là tạo ra khả năng kết nối nguồn lực và đưa công nghệ đến gần thị trường hơn.

Hoạt động kết nối, hỗ trợ các dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại TP Hồ Chí Minh. Ảnh có sử dụng AI
Tháo điểm nghẽn để công nghệ đi vào cuộc sống
Một trong những vấn đề lớn nhất của đổi mới sáng tạo là khoảng cách giữa phòng nghiên cứu và thị trường. Một kết quả nghiên cứu dù có giá trị nhưng nếu không tìm được doanh nghiệp tiếp nhận, không có nguồn vốn để hoàn thiện sản phẩm hoặc không có cơ chế phù hợp để thương mại hóa thì rất khó tạo ra tác động kinh tế. Đây cũng là lý do TP Hồ Chí Minh đang đồng thời thử nghiệm nhiều cơ chế ở các khâu khác nhau.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Sương, Thành phố đã ban hành 5 Nghị quyết, 2 Quyết định và 4 Đề án liên quan đến quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thu hút chuyên gia, phát triển công nghệ chiến lược, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hình thành Quỹ đầu tư mạo hiểm và thu hút, giữ chân chuyên gia, nhà khoa học.
Từ thực tiễn triển khai, Thành phố tiếp tục đề xuất 18 cơ chế, chính sách, trong đó 11 nội dung thuộc thẩm quyền của HĐND Thành phố và 7 nội dung thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố.
Việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế cũng đặt ra yêu cầu phải tổ chức thực hiện hiệu quả những chính sách đã được ban hành. Phát biểu bế mạc kỳ họp thứ 4 HĐND TP Hồ Chí Minh khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 ngày 27/8, ông Võ Văn Minh, Chủ tịch HĐND TP Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Luật được thông qua mới là điểm khởi đầu. Điều quan trọng là phải tổ chức thực hiện kịp thời, đồng bộ, đúng pháp luật và phù hợp với thực tiễn Thành phố”.

Ông Võ Văn Minh, Chủ tịch HĐND TP Hồ Chí Minh, phát biểu bế mạc Kỳ họp thứ 4 HĐND TP Hồ Chí Minh khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031, ngày 27/8. Ảnh: Hoàng Tuyết/Báo Tin tức và Dân tộc.
Điều này cho thấy một thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận: thay vì chờ một cơ chế hoàn chỉnh rồi mới triển khai, Thành phố đang vừa làm, vừa nhận diện những điểm chưa phù hợp để tiếp tục kiến nghị điều chỉnh.
Đây chính là tinh thần “phòng thí nghiệm chính sách” mà TP Hồ Chí Minh đang hướng tới. Bởi trong lĩnh vực công nghệ, khoảng cách giữa lúc một chính sách được xây dựng và khi nó được áp dụng có thể tạo ra khoảng cách rất lớn với tốc độ thay đổi của thực tiễn. Những công nghệ mới có thể xuất hiện nhanh hơn khả năng cập nhật của các quy định hiện hành. Do đó, một cơ chế đủ linh hoạt, rõ trách nhiệm và có khả năng thử nghiệm là điều kiện quan trọng để nguồn lực xã hội được khơi thông.
Nhưng tháo gỡ thể chế mới chỉ là bước đầu. Thước đo cuối cùng vẫn là khả năng biến nghiên cứu thành sản phẩm, biến công nghệ thành năng suất và biến những ý tưởng mới thành giá trị cho nền kinh tế.
Từ Quỹ đầu tư mạo hiểm, mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo đến các cơ chế hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, Thành phố đang từng bước xây dựng những mắt xích của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nơi ý tưởng có thể tìm được nguồn vốn, công nghệ tìm được doanh nghiệp và kết quả nghiên cứu có đường đi đến thị trường.

Phần việc khó hơn vì thế đang ở phía trước: làm sao để những cơ chế đã mở ra không dừng lại ở mô hình thí điểm mà thực sự tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp và giá trị kinh tế mới. Đây cũng là phép thử rõ nhất đối với mục tiêu đưa tinh thần Nghị quyết 57 trở thành động lực tăng trưởng mới của TP Hồ Chí Minh.
Bài 2: Khi khoảng cách từ phòng nghiên cứu đến thị trường được rút ngắn
Nếu các cơ chế mới là “đường băng” để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo "cất cánh" thì thị trường mới là nơi quyết định công nghệ có tạo ra giá trị hay không. TP Hồ Chí Minh đang tìm cách rút ngắn khoảng cách từ phòng nghiên cứu đến doanh nghiệp, từ ý tưởng đến sản phẩm, qua đó biến nguồn lực tri thức thành một động lực tăng trưởng thực chất.

Từ công nghệ và dữ liệu đến ứng dụng thực tế, doanh nghiệp đang trở thành mắt xích quan trọng trong quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Không để công nghệ dừng lại ở phòng nghiên cứu
Một trong những điểm nghẽn lâu nay của hoạt động khoa học và công nghệ là kết quả nghiên cứu chưa dễ dàng tìm được nơi ứng dụng. Nhà khoa học có công trình, doanh nghiệp có nhu cầu nhưng hai bên không phải lúc nào cũng tìm được nhau. Ngay cả khi đã kết nối, quá trình từ thử nghiệm đến ký kết hợp tác, chuyển giao công nghệ và đưa sản phẩm vào sản xuất vẫn còn nhiều khâu phải giải quyết.
Bài toán này đang được TP Hồ Chí Minh đặt lại theo hướng lấy nhu cầu của doanh nghiệp làm điểm xuất phát, thay vì chỉ dừng ở việc giới thiệu những công nghệ đang có. Sàn giao dịch công nghệ của Thành phố được xây dựng phiên bản mới với mục tiêu không chỉ cung cấp thông tin về công nghệ, thiết bị hay chuyên gia, mà theo sát quá trình kết nối cho đến khi hình thành kết quả cụ thể.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Sương, Trưởng Phòng Phát triển Khoa học Công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh), mô hình mới tập trung vào bốn hướng chính: quản lý theo nhu cầu của doanh nghiệp; tích hợp các dịch vụ hỗ trợ giao dịch; số hóa toàn bộ quy trình và đo lường hiệu quả; đồng thời ưu tiên những công nghệ có khả năng ứng dụng cao.

Bà Nguyễn Thị Thu Sương, Trưởng Phòng Phát triển Khoa học Công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh), phát biểu tại một hội nghị.
Cách tiếp cận này đặt ra một yêu cầu khác với hoạt động kết nối công nghệ trước đây. Một cuộc gặp giữa nhà khoa học và doanh nghiệp chưa phải là kết quả cuối cùng. Điều quan trọng hơn là sau cuộc gặp đó có hình thành hợp đồng chuyển giao hay không, công nghệ có được đưa vào ứng dụng hay không và doanh nghiệp có tạo ra sản phẩm, cải thiện năng suất hoặc hình thành giá trị mới hay không.
Tại Ngày hội Công nghệ TP Hồ Chí Minh - Conviction 2026 vừa diễn ra mới đây, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh: “Công nghệ phải giải quyết bài toán thực tiễn và tạo ra giá trị thực cụ thể”. Theo đó, khi đánh giá một công nghệ cần đặt ra những câu hỏi cụ thể: công nghệ này giải quyết bài toán gì, tạo ra sản phẩm gì, hiệu quả như thế nào, ai sẽ sử dụng và mang lại lợi ích gì?.
Đặt tiêu chí này vào hoạt động của thị trường công nghệ, giá trị của một công nghệ không còn nằm ở việc công nghệ đó được giới thiệu ở đâu hay có bao nhiêu người biết đến, mà ở khả năng đi tiếp đến bước ứng dụng và tạo ra kết quả trong thực tế.
Tính đến đầu tháng 9/2026, Sàn giao dịch có gần 25.000 công nghệ, thiết bị; hơn 1.100 chuyên gia tư vấn và đã ghi nhận trên 191.000 lượt truy cập, tương tác. Khoảng 40 hợp đồng, thỏa thuận hợp tác với tổng giá trị gần 31 tỷ đồng đã được hình thành.

Số liệu thống kê trên nền tảng giao dịch công nghệ trực tuyến của Sàn giao dịch công nghệ TP Hồ Chí Minh, tính đến đầu tháng 9/2026. Nguồn: techport.vn
Những con số này mới là kết quả bước đầu nhưng cho thấy hoạt động giao dịch công nghệ đang từng bước được chuyển từ khâu cung cấp thông tin sang hỗ trợ quá trình kết nối và chuyển giao. Công nghệ được nhìn nhận không chỉ là kết quả nghiên cứu mà còn là một nguồn lực có thể giao dịch, ứng dụng và tạo ra giá trị cho doanh nghiệp.
Để thị trường công nghệ vận hành, chỉ có bên mua là chưa đủ. Thành phố cũng cần tạo ra năng lực nghiên cứu và nguồn cung công nghệ có chất lượng, nhất là trong những lĩnh vực có khả năng tác động lớn đến năng lực cạnh tranh trong tương lai.
TP Hồ Chí Minh đã lựa chọn 3 tổ chức đủ điều kiện tham gia hình thành và phát triển các trung tâm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế, với 4 chương trình khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực như vi mạch, tế bào gốc, vật liệu mới, tổng kinh phí hơn 200 tỷ đồng.
Mục tiêu của việc hình thành các trung tâm nghiên cứu không đơn thuần là xây dựng thêm phòng thí nghiệm. Quan trọng hơn là tạo ra những tổ chức có khả năng tập trung nguồn lực, giải quyết các bài toán lớn và tạo ra những kết quả nghiên cứu có khả năng đi đến ứng dụng.
Theo PGS.TS Lê Văn Thăng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh, yêu cầu đặt ra hiện nay là tạo môi trường để các nhà khoa học phát huy năng lực, đồng thời gắn hoạt động nghiên cứu với những vấn đề thực tế của Thành phố và doanh nghiệp.
Điều này cho thấy mối quan hệ giữa nghiên cứu và thị trường đang được nhìn nhận theo hướng hai chiều. Không chỉ đưa kết quả nghiên cứu đến doanh nghiệp, nhu cầu từ doanh nghiệp cũng cần trở thành một trong những nguồn đặt hàng, định hướng cho hoạt động nghiên cứu.
Khi doanh nghiệp tham gia từ sớm, nhà khoa học có thể hiểu rõ hơn bài toán cần giải quyết; ngược lại, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận sớm với những công nghệ có tiềm năng ứng dụng. Khoảng cách giữa phòng nghiên cứu và dây chuyền sản xuất vì thế có thể được rút ngắn ngay từ quá trình hình thành công nghệ.

Hành trình từ nghiên cứu, kết nối và chuyển giao công nghệ đến hình thành sản phẩm, tạo giá trị trên thị trường. Ảnh minh họa có sử dụng AI
Từ kết quả nghiên cứu đến giá trị kinh tế
Đưa công nghệ ra thị trường không chỉ là tạo thêm một kênh giao dịch. Đằng sau đó là yêu cầu tổ chức lại cách các nguồn lực khoa học, công nghệ, doanh nghiệp và vốn kết nối với nhau.
Một công nghệ có thể có tiềm năng về mặt khoa học nhưng để trở thành sản phẩm còn phải trải qua nhiều bước: hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, đánh giá, sản xuất thử, tìm doanh nghiệp tiếp nhận và xây dựng thị trường. Ở mỗi bước đều có những rủi ro và nhu cầu nguồn lực khác nhau. Đây cũng là lý do Thành phố xác định những lĩnh vực công nghệ chiến lược cần ưu tiên, trong đó có trí tuệ nhân tạo, công nghệ chuỗi khối, công nghệ sinh học, y sinh, vật liệu mới và bán dẫn.
Đặc điểm chung của nhiều lĩnh vực này là cần vốn đầu tư lớn, thời gian nghiên cứu dài và khả năng chấp nhận rủi ro cao. Nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước, nguồn lực khó có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu. Vì vậy, việc mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp, nhà đầu tư và các quỹ đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đưa công nghệ từ nghiên cứu đến thị trường.
Ở đây, vai trò của Nhà nước không phải thay thế thị trường mà là tạo điều kiện để thị trường công nghệ hình thành và vận hành hiệu quả hơn. Nhà nước có thể đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu, hỗ trợ những giai đoạn đầu có rủi ro cao, xây dựng cơ chế thử nghiệm và kết nối các chủ thể; còn doanh nghiệp phải là lực lượng trực tiếp đưa công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và thương mại hóa.

Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh thường xuyên tổ chức hoạt động trình diễn, tư vấn, kết nối và hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm, tiếp nhận công nghệ tại Sàn Giao dịch công nghệ TP Hồ Chí Minh.
Khi đó, Sàn giao dịch công nghệ không chỉ là nơi “đăng” và “tìm” công nghệ, các trung tâm nghiên cứu cũng không chỉ là nơi tạo ra công trình, Quỹ đầu tư cũng không chỉ đơn thuần cung cấp vốn mà giá trị của từng công cụ nằm ở khả năng kết nối thành một chuỗi, để một kết quả nghiên cứu có thể tìm được doanh nghiệp, một doanh nghiệp có thể tìm được công nghệ phù hợp và một công nghệ có tiềm năng có thể tìm được nguồn vốn để phát triển.
Đây là điểm có ý nghĩa đối với mục tiêu cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW tại TP Hồ Chí Minh. Nếu khoa học và công nghệ được xác định là một động lực tăng trưởng mới, thì kết quả nghiên cứu phải được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ, quy trình sản xuất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Kế hoạch hành động số 19-KH/TU ngày 9/12/2025 đặt mục tiêu đến năm 2030 Thành phố có ít nhất 5 trung tâm nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới sáng tạo tiệm cận trình độ quốc tế trong các lĩnh vực then chốt; đến năm 2035 trở thành trung tâm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao của khu vực Đông Nam Á và đến năm 2045 có ít nhất 5 trung tâm nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới sáng tạo đạt chuẩn quốc tế.
Những mục tiêu này cho thấy Thành phố đang hướng đến việc xây dựng năng lực nghiên cứu dài hạn, đồng thời tạo nền tảng để kết quả nghiên cứu có thể tham gia sâu hơn vào nền kinh tế. Tuy nhiên, để các mục tiêu đó trở thành hiện thực, bài toán không chỉ nằm ở số lượng trung tâm hay chương trình nghiên cứu được hình thành, mà ở khả năng tạo ra kết quả có thể ứng dụng và thương mại hóa.
Một công nghệ được doanh nghiệp tiếp nhận; một quy trình sản xuất được cải tiến; một sản phẩm mới được hình thành; một giải pháp giúp giảm chi phí, tăng năng suất hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể của đô thị... đó mới là những thước đo cuối cùng của đổi mới sáng tạo.
Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 57, TP Hồ Chí Minh đã có những chuyển động rõ hơn trong việc xây dựng thể chế, huy động nguồn lực và hình thành các công cụ để kết nối nghiên cứu với thị trường. Từ Sàn giao dịch công nghệ, mạng lưới trung tâm nghiên cứu đến Quỹ đầu tư mạo hiểm và các chương trình nghiên cứu trong những lĩnh vực công nghệ ưu tiên, những mắt xích đầu tiên đang được hình thành.
Thành phố có thể tạo ra cơ chế, nhưng doanh nghiệp phải biến công nghệ thành sản phẩm. Nhà khoa học tạo ra tri thức, nhưng thị trường mới quyết định khả năng nhân rộng và giá trị kinh tế của tri thức đó. Nhà nước có thể tạo nguồn lực ban đầu, nhưng doanh nghiệp và xã hội phải tham gia để mở rộng quy mô.

Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh.
Vì vậy, chặng đường phía trước không chỉ là tiếp tục tạo thêm các công cụ hỗ trợ, mà quan trọng hơn là làm cho những công cụ đã có vận hành thông suốt, giảm khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, giữa công nghệ và sản xuất.
Thước đo cuối cùng không phải là có bao nhiêu công nghệ được giới thiệu hay bao nhiêu cuộc kết nối được tổ chức, mà là bao nhiêu công nghệ được doanh nghiệp tiếp nhận, bao nhiêu sản phẩm được hình thành và bao nhiêu giá trị mới được tạo ra. Khi khoảng cách từ phòng nghiên cứu đến thị trường được rút ngắn, nguồn lực khoa học, công nghệ mới thực sự trở thành một động lực tăng trưởng của TP Hồ Chí Minh.
Bài cuối: Thu hút nhân tài, tạo động lực mới
Để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng, TP Hồ Chí Minh đang đặt trọng tâm vào một nguồn lực có tính quyết định: con người. Từ chính sách thu hút chuyên gia đến việc tạo môi trường để người giỏi giải quyết những bài toán lớn, Thành phố đang từng bước tìm cách biến tri thức thành năng lực đổi mới và giá trị cụ thể.

Các chuyên gia, nhà khoa học làm việc trong môi trường nghiên cứu và phát triển công nghệ tại TP Hồ Chí Minh.
Người giỏi cần được trao những bài toán lớn
Một chính sách thu hút nhân tài sẽ khó phát huy hiệu quả nếu chỉ dừng ở mức đãi ngộ. Với những người làm khoa học và công nghệ, điều họ cần không chỉ là thu nhập, mà còn là môi trường nghiên cứu, quyền chủ động chuyên môn, nguồn lực cần thiết và những bài toán đủ lớn để có thể phát huy năng lực.
Đây là vấn đề TP Hồ Chí Minh đang từng bước thay đổi trong cách tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong quá trình cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW, Thành phố xác định nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những nguồn lực quan trọng để thực hiện các mục tiêu phát triển. Cùng với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, yêu cầu đặt ra là phải thay đổi cách thu hút và sử dụng người tài.
Theo ông Nguyễn Sĩ Long, Phó Trưởng phòng Công chức, viên chức (Sở Nội vụ TP Hồ Chí Minh), chính sách thu hút chuyên gia cần gắn với những công việc cụ thể và kết quả mà chuyên gia có thể đóng góp. Đây là sự chuyển hướng từ tư duy chủ yếu dựa vào chế độ đãi ngộ sang tạo dựng môi trường để người có năng lực được làm việc, được chủ động và tạo ra kết quả.
Cách tiếp cận này đặc biệt cần thiết đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ, nơi kết quả không phải lúc nào cũng xuất hiện ngay sau một thời gian ngắn. Một nhà khoa học có thể cần nhiều năm để hoàn thiện một hướng nghiên cứu; một công nghệ mới có thể phải qua nhiều lần thử nghiệm trước khi trở thành sản phẩm.

Ông Nguyễn Sĩ Long, Phó Trưởng phòng Công chức, viên chức (Sở Nội vụ TP Hồ Chí Minh), phát biểu tại hội nghị gần đây.
Đây cũng là lý do Thành phố đang hoàn thiện các cơ chế thu hút chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt. Quyết định số 05/2026/QĐ-UBND được ban hành nhằm cụ thể hóa chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt trên địa bàn.
Tuy nhiên, thu hút mới chỉ là bước đầu. Câu hỏi khó hơn là thu hút về để làm gì và làm việc trong môi trường nào. Tại các khu công nghệ cao, yêu cầu này thể hiện khá rõ. Hoạt động nghiên cứu không thể tách rời sản xuất, trong khi doanh nghiệp công nghệ cũng cần đội ngũ nghiên cứu và chuyên gia có kinh nghiệm để phát triển sản phẩm, hoàn thiện quy trình và giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tế.
Theo ông Phạm Cao Khải, Trưởng phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo (Ban Quản lý Khu Nông nghiệp công nghệ cao TP Hồ Chí Minh), bài toán nhân lực khoa học và công nghệ không chỉ nằm ở việc tìm người có thành tích nổi bật, mà còn phải xác định người đó phù hợp với yêu cầu nào.
Một chuyên gia có nhiều công trình công bố quốc tế chưa chắc đã có kinh nghiệm tổ chức sản xuất, làm chủ quy trình công nghệ hoặc xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tế. Ngược lại, những kỹ sư có kinh nghiệm và khả năng giải quyết bài toán sản xuất có thể gặp khó khăn khi đáp ứng các tiêu chí thiên về học thuật.

TP Hồ Chí Minh đang hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút nhân tài, tạo điều kiện hình thành và phát triển các trung tâm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế (CoE). Ảnh minh họa có sử dụng AI
Thực tế này cho thấy thu hút nhân tài không thể chỉ dựa vào một bộ tiêu chí chung, Thành phố cần xác định rõ từng bài toán, từng vị trí và yêu cầu cụ thể để có cách lựa chọn, sử dụng và đánh giá phù hợp. Đây cũng là điểm chuyển quan trọng từ “thu hút người tài” sang “sử dụng hiệu quả người tài”.
Một chuyên gia giỏi nếu chỉ được mời về nhưng không có phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, dữ liệu hoặc bài toán thực tế để giải quyết thì rất khó tạo ra giá trị tương xứng. Ngược lại, nếu được đặt vào một môi trường có đủ điều kiện, chuyên gia không chỉ tạo ra kết quả nghiên cứu mà còn có thể hình thành nhóm nghiên cứu, đào tạo nhân lực kế cận, kết nối với doanh nghiệp và thúc đẩy ứng dụng công nghệ.
Câu chuyện của Tiến sĩ Ngô Huỳnh Thiện, Tổng giám đốc Công ty cổ phần công nghệ xử lý môi trường (ARC-V) là một ví dụ về một dòng chảy tri thức khác: trở về thông qua doanh nghiệp và công nghệ để giải quyết một bài toán thực tế.
Sinh ra tại TP Hồ Chí Minh, mang quốc tịch Bỉ, Tiến sĩ Ngô Huỳnh Thiện có khoảng 20 năm học tập và làm việc tại 8 quốc gia. Sau thời gian làm việc ở nước ngoài, ông trở về Việt Nam với một công nghệ xử lý chất thải dựa trên ấu trùng ruồi lính đen. “Tôi trở về Việt Nam vì đây là nơi tôi thấy bài toán của mình có ý nghĩa thực tế”, Tiến sĩ Ngô Huỳnh Thiện chia sẻ.

Tiến sĩ Ngô Huỳnh Thiện, Tổng Giám đốc ARC-V, giới thiệu công nghệ tại Chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) chuyên ngành Công nghệ xanh và Tuần hoàn năm 2026.
Theo ông, rác sinh hoạt ở Việt Nam thường được thu gom trong tình trạng hỗn hợp, trong khi nhiều phương pháp xử lý truyền thống đòi hỏi rác phải được phân loại từ đầu. Từ thực tế đó, doanh nghiệp đang triển khai mô hình thử nghiệm công nghệ xử lý rác hỗn hợp bằng ấu trùng ruồi lính đen.
Doanh nghiệp đang hướng tới xây dựng mô hình thử nghiệm xử lý khoảng 25 tấn rác/ngày tại TP Hồ Chí Minh, nhằm đánh giá khả năng vận hành công nghệ trong điều kiện thực tế tại Việt Nam. Tiến sĩ Ngô Huỳnh Thiện cho biết, công nghệ được phát triển dựa trên ARC-V Process, được cấp phép từ ARC Ento Tech Australia và đang trong quá trình xin cấp bằng sáng chế. Những thông tin về quy mô và các sản phẩm đầu ra hiện vẫn cần được tiếp tục kiểm chứng trong quá trình thử nghiệm.
Điều đáng chú ý ở câu chuyện này không nằm ở những con số công suất được kỳ vọng, mà ở cách một người có quá trình học tập, làm việc tại nhiều quốc gia lựa chọn trở về và đưa kinh nghiệm, công nghệ vào một bài toán cụ thể tại Việt Nam.
Đó cũng là một góc nhìn khác về chính sách thu hút nguồn lực tri thức: không nhất thiết tất cả chuyên gia phải trở về làm việc trong các cơ quan nghiên cứu hay khu vực công. Họ có thể tham gia thông qua doanh nghiệp, dự án công nghệ, mạng lưới hợp tác hoặc những sáng kiến giải quyết các vấn đề của Thành phố và đất nước.
Khi tri thức phải chứng minh bằng giá trị thực
Nếu bài toán đầu tiên là thu hút được người có năng lực, bài toán tiếp theo là tạo điều kiện để năng lực đó chuyển hóa thành kết quả.
Vì vậy, chính sách nhân tài cần được đặt trong một hệ sinh thái rộng hơn, nơi nhà khoa học, chuyên gia, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà đầu tư có thể kết nối với nhau. Nhà khoa học tạo ra tri thức; chuyên gia giúp giải quyết những bài toán chuyên sâu; trường, viện cung cấp nền tảng nghiên cứu và đào tạo; doanh nghiệp xác định nhu cầu, tiếp nhận và đưa công nghệ vào sản xuất.

Khi các nguồn lực này được kết nối, chính sách thu hút nhân tài mới không chỉ dừng ở việc “đưa người về” mà tạo ra khả năng hình thành những nhóm nghiên cứu, dự án công nghệ và doanh nghiệp mới.
Với ARC-V, chẳng hạn, vấn đề không chỉ là một công nghệ được phát triển ở nước ngoài có thể đưa về Việt Nam hay không, quan trọng hơn là công nghệ đó có thích ứng với điều kiện thực tế hay không, có thể vận hành ổn định ở quy mô phù hợp hay không và các sản phẩm đầu ra có tìm được thị trường hay không.
Đây cũng là yêu cầu chung đối với các lĩnh vực công nghệ chiến lược mà TP Hồ Chí Minh đang ưu tiên như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, y sinh, vật liệu mới và bán dẫn. Đây là những lĩnh vực cần đầu tư dài hạn, đội ngũ chuyên gia có năng lực và sự tham gia của doanh nghiệp.
PGS.TS Lê Văn Thăng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh, nhấn mạnh yêu cầu gắn nghiên cứu với thực tiễn, để khoa học và công nghệ thực sự trở thành nguồn lực phục vụ phát triển Thành phố.
Từ yêu cầu này, việc xây dựng môi trường cho người tài không thể tách khỏi việc phát triển các tổ chức nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ và các cơ chế hỗ trợ ứng dụng. Một chuyên gia có thể tạo ra một công trình tốt, nhưng để công trình đó trở thành sản phẩm cần cả một chuỗi nguồn lực phía sau.

PGS.TS Lê Văn Thăng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh, phát biểu tại hội nghị triển khai các chính sách thu hút, tuyển chọn, sử dụng chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt phục vụ phát triển Thành phố.
Đây cũng là sự thay đổi quan trọng trong cách nhìn về nhân tài. Người giỏi không chỉ được xem là một nguồn nhân lực cần thu hút, mà là một chủ thể có khả năng tạo ra những thay đổi mới nếu được đặt đúng vị trí và trao đúng điều kiện. Nghị quyết 57-NQ/TW vì thế không chỉ đặt ra yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, mà còn đặt ra bài toán về cách tổ chức và huy động nguồn lực con người.
TP Hồ Chí Minh có lợi thế về hệ thống trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và cộng đồng khởi nghiệp, nhưng lợi thế đó chỉ trở thành năng lực cạnh tranh khi Thành phố tạo được môi trường để người giỏi đến, có điều kiện làm việc và nhìn thấy kết quả từ những đóng góp của mình.
Một chuyên gia trở về với một công nghệ mới, một nhà khoa học hình thành được nhóm nghiên cứu, một kỹ sư giải quyết được một bài toán sản xuất, một doanh nghiệp tiếp nhận và phát triển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, những kết quả ấy có thể không xuất hiện ngay, nhưng chính là những dấu hiệu cho thấy tri thức đang được chuyển hóa thành năng lực phát triển.
Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 57, TP Hồ Chí Minh đang từng bước hình thành những điều kiện cần thiết cho quá trình đó: cơ chế thu hút nhân tài, không gian nghiên cứu, nguồn vốn, doanh nghiệp công nghệ và các công cụ kết nối với thị trường.
Thu hút một người giỏi đã khó, nhưng tạo môi trường để người giỏi tạo ra giá trị còn khó hơn. Vì vậy, thước đo của chính sách nhân tài không chỉ là số lượng chuyên gia được thu hút, mà là những công trình, công nghệ, sản phẩm và giải pháp được hình thành từ nguồn lực ấy.

Môi trường nghiên cứu, đào tạo và kết nối với doanh nghiệp là một trong những điều kiện để phát huy năng lực của đội ngũ khoa học, công nghệ.
Khi người tài được trao những bài toán lớn, được tiếp cận nguồn lực phù hợp và có không gian để thử nghiệm, tri thức mới có cơ hội trở thành công nghệ; công nghệ mới có cơ hội trở thành sản phẩm và những sản phẩm đó có thể tạo ra giá trị mới cho nền kinh tế.
Đó cũng là điểm đến của quá trình cụ thể hóa Nghị quyết 57 tại TP Hồ Chí Minh: không chỉ thu hút người giỏi mà xây dựng một môi trường đủ sức để người giỏi tạo ra những động lực tăng trưởng mới cho Thành phố.
Bài, ảnh: Lưu Niệm/Báo Tin Tức và Dân tộc - Thông Tấn Xã Việt Nam
Link Nguồn: