Mã số N3025: Đón sóng FDI thế hệ mới, cơ hội nâng tầm kinh tế TPHCM

  - Chia sẻ:    
Không chỉ là điểm đến hàng đầu, TPHCM đang đứng trước cơ hội nâng tầm vị thế khi dòng vốn FDI từ các “ông lớn” chảy mạnh vào công nghệ cao, AI, bán dẫn, logistics và tài chính…

Bài 1: INTEL, SAMSUNG, BOSCH và những "ÔNG LỚN" công nghệ đang làm gì ở TPHCM?

Intel vừa hoàn tất bàn giao 31 thiết bị lắp ráp và kiểm định chip cho Khu Công nghệ Cao TPHCM (SHTP) và Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU Hà Nội), trong dự án chuyển đổi công năng các thiết bị sản xuất chip để phục vụ cho mục đích đào tạo và nghiên cứu. Sau 20 năm hoạt động, nhà máy của Intel ở SHTP đã sản xuất hơn 4 tỷ đơn vị sản phẩm và đóng góp hơn 110 tỷ USD giá trị xuất khẩu.

Intel cùng với những tập đoàn công nghệ khác như Samsung, Nidec, Jabil, Datalogic, Nipro, Siemens EDA… trong nhiều năm qua đã mang dòng vốn FDI tới, góp phần định vị và nâng tầm kinh tế TPHCM.

Đầu tháng 8, Tập đoàn LAPP (Đức), doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong lĩnh vực công nghệ cáp và kết nối, là cái tên mới nhất “nhập cuộc” vào dòng vốn FDI khi công bố ra mắt và đặt trụ sở của LAPP Việt Nam tại TPHCM.

Ông Richard Lee, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương của LAPP, cho biết Việt Nam đang trở thành điểm đến chiến lược trong kế hoạch phát triển của LAPP tại khu vực. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, gia tăng mức độ tự động hóa và hướng tới mô hình công nghiệp bền vững, vai trò của các giải pháp kết nối trở nên quan trọng.

“Việt Nam sẽ là thị trường kinh doanh trọng điểm của LAPP, tập trung vào các lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao như bán dẫn, trung tâm dữ liệu, các mô hình kho vận thông minh và sản xuất tự động hóa với sự tham gia ngày càng lớn của robot”, ông Richard Lee nói.

Sự “so kè” dòng vốn giữa các quốc gia chảy vào TPHCM cũng là điểm nổi bật, khi Tập đoàn MISUMI (Nhật Bản) cũng công bố khoản đầu tư khoảng 4,6 tỷ yên (hơn 29 triệu USD) để mở rộng sản xuất tại Việt Nam và các quốc gia khác. Khoản đầu tư tập trung vào sản xuất bàn trượt tự động - linh kiện quan trọng trong thiết bị sản xuất module thu phát quang cho trung tâm dữ liệu. Theo tập đoàn của Nhật, nhu cầu sản phẩm này tăng mạnh trong bối cảnh AI tạo sinh được ứng dụng rộng rãi và các ngành công nghiệp như robot phát triển nhanh.

Theo ghi nhận phóng viên Dân trí, dòng vốn FDI vào TPHCM thời gian gần đây đang dịch chuyển rõ nét vào các lĩnh vực công nghệ cao, AI, bán dẫn, tài chính, logistics và các trung tâm nghiên cứu - phát triển (R&D).

Dữ liệu thể hiện bằng con số cũng cho thấy bức tranh tích cực này, khi báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 của Thống kê TPHCM nêu tính đến cuối tháng 7, TPHCM thu hút tổng vốn FDI hơn 9,8 tỷ USD, tăng tới 144,5% so với cùng kỳ. Chỉ trong 7 tháng, thành phố đã hoàn thành gần 90% kế hoạch thu hút vốn FDI cả năm.

Không chỉ tăng về lượng, chất lượng dòng vốn cũng đang cải thiện rõ rệt. Môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, cùng định hướng thu hút FDI thế hệ mới đã giúp TPHCM trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các tập đoàn công nghệ toàn cầu.

Tại chương trình “Bàn tròn Tài chính” ở Đại học Columbia (Mỹ), do Cơ quan Điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM (VIFC-HCMC) tổ chức hồi cuối tháng 7, Tập đoàn công nghệ Qualcomm bày tỏ ấn tượng với tầm nhìn của TPHCM về trung tâm tài chính quốc tế của thành phố.

Theo đánh giá của doanh nghiệp này, trung tâm tài chính quốc tế tại TP HCM được định hướng trở thành cửa ngõ kết nối Việt Nam với thị trường tài chính toàn cầu, góp phần hiện đại hóa hệ thống tài chính, thu hút đầu tư và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đó, Qualcomm mong muốn tham gia vào quá trình phát triển và vận hành VIFC-HCMC, đồng thời cam kết tìm kiếm cơ hội hợp tác, đầu tư, trao đổi tri thức; chỉ định Công ty TNHH Qualcomm Việt Nam làm đầu mối phối hợp triển khai.

 Nhìn ở góc độ dòng vốn quốc gia, Hàn Quốc đang là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất xét theo luỹ kế tại Việt Nam, với hơn 95 tỷ USD vốn đăng ký trong hơn 10.400 dự án đang hoạt động. Dòng vốn này tạo ra tác động thực tế, hỗ trợ khoảng 10.000 doanh nghiệp Hàn Quốc hoạt động tại Việt Nam và tạo ra hơn 900.000 việc làm.

Tại TPHCM, Samsung Electronics HCMC CE Complex (SEHC) vừa triển khai dự án điện mặt trời mái nhà gần 28 MWp, đồng thời duy trì quy mô đầu tư khoảng 2,8 tỷ USD. Doanh thu đạt khoảng 5,2 tỷ USD năm 2025.

Cùng xu hướng, Tập đoàn Bosch (Đức) đặt Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển (R&D) và phát triển phần mềm tại TPHCM, phục vụ mạng lưới toàn cầu. Theo ông Andre de Jong, Tổng Giám đốc Bosch Việt Nam, việc đẩy mạnh đầu tư vào R&D và công nghệ cao tại Việt Nam xuất phát từ niềm tin vào tiềm năng tăng trưởng và chất lượng nguồn nhân lực. Hiện Bosch là một trong những nhà đầu tư Đức lớn nhất tại Việt Nam với hơn 450 triệu euro vốn đầu tư và gần 6.000 nhân sự.

“Việt Nam không chỉ là một thị trường tăng trưởng quan trọng mà đang ngày càng trở thành một trung tâm quan trọng trong mạng lưới toàn cầu của Bosch”, ông Andre de Jong nói.

Thời gian tới, Bosch cho biết sẽ tiếp tục đầu tư công nghệ, phát triển nhân lực và mở rộng hợp tác với các trường đại học, đối tác trong nước nhằm góp phần hoàn thiện hệ sinh thái công nghệ tại Việt Nam.

“Khi lựa chọn địa điểm đặt trung tâm R&D hoặc các dự án công nghệ cao, ở góc độ doanh nghiệp thường đánh giá đồng thời nhiều yếu tố, gồm những điều kiện phát triển của nền kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực, môi trường đầu tư, hạ tầng và khả năng đổi mới sáng tạo. Với những lợi thế hiện có của Việt Nam, tập đoàn đang đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu trong các lĩnh vực AI và bán dẫn thông qua đội ngũ kỹ sư tại Bosch Global Software Technologies Việt Nam” - ông Andre de Jong, Tổng Giám đốc Bosch Việt Nam:

Đến nay, TPHCM thu hút 20.259 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn gần 142 tỷ USD từ 152 quốc gia, vùng lãnh thổ. Khu vực FDI đóng góp khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và hơn 50% kim ngạch xuất khẩu, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất và hội nhập quốc tế của thành phố.

Trong giai đoạn tới, TPHCM định hướng chuyển từ thu hút dự án sang kiến tạo hệ sinh thái để đón dòng vốn chất lượng cao. Theo các tổ chức quốc tế, FDI toàn cầu có xu hướng giảm về quy mô nhưng gia tăng tính chọn lọc, tập trung vào các lĩnh vực như công nghệ cao, tài chính xanh, kinh tế số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch và đổi mới sáng tạo. Cạnh tranh thu hút FDI vì vậy không còn nằm ở ưu đãi đơn lẻ, mà ở năng lực xây dựng hệ sinh thái và thể chế.

Đại diện Intel đánh giá TPHCM tiếp tục là một địa điểm quan trọng nhờ môi trường chính trị xã hội ổn định, vị trí chiến lược, lực lượng lao động trẻ và định hướng rõ ràng trong thu hút FDI chất lượng cao. Intel tiếp tục xem Việt Nam và TPHCM là một phần quan trọng trong hoạt động sản xuất toàn cầu.

Bên cạnh những kết quả đạt được, để đón thêm dòng vốn FDI từ những “đại bàng” công nghệ, nhiều chuyên gia cho rằng TPHCM nói riêng và cả nước cần tiếp tục cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, kinh doanh, nhất là thủ tục hành chính và thực thi nhất quán.

“Thành phố nên tiếp tục đầu tư vào phát triển nhân lực chất lượng cao, gắn đào tạo với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, đồng thời có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng chuẩn về chất lượng, quản trị, đổi mới sáng tạo và tuân thủ quốc tế. Khi doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa cùng phát triển năng lực, TPHCM sẽ có cơ hội xây dựng một hệ sinh thái công nghệ sâu hơn, giúp Việt Nam tham gia vào các khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu”, đại diện Intel nói.

Kết quả Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) trong Quý II/2026 tăng mạnh lên 79,7 điểm – xấp xỉ mức cao nhất trong 7 năm qua, phản ánh niềm tin kinh doanh đang phục hồi mạnh mẽ. Dù vậy, kết quả khảo sát cũng cho thấy vẫn còn những rào cản về thủ tục hành chính. Nếu muốn chuyển hóa niềm tin của nhà đầu tư thành những siêu dự án trong tương lai, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách và tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế và hành chính.

Theo EuroCham, dù niềm tin gia tăng, 53% doanh nghiệp vẫn cho rằng sự chậm trễ trong thủ tục hành chính, việc thực thi chính sách thiếu nhất quán và công tác quản lý thuế chưa minh bạch là những rào cản lớn nhất đối với kế hoạch mở rộng hoạt động trong dài hạn. Bên cạnh những thách thức đã tồn đọng nhiều năm, khảo sát cũng ghi nhận những áp lực mới. Thiếu hụt nguồn nhân lực tiếp tục gia tăng kể từ Quý IV/2025 và hiện được 38% doanh nghiệp xem là một trong ba thách thức vận hành lớn nhất.

Đồng thời, các vấn đề về chứng nhận, kiểm nghiệm và tiêu chuẩn sản phẩm cũng nổi lên như một yếu tố làm gia tăng độ phức tạp trong hoạt động kinh doanh, phản ánh yêu cầu ngày càng phức tạp của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Không ít doanh nghiệp phản ánh thủ tục hành chính làm chậm tiến độ triển khai hoạt động và dự án, trong khi 29% phải phân bổ nguồn lực cho các công việc hành chính thay vì tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi. Đội ngũ quản lý của doanh nghiệp phải dành ngày càng nhiều thời gian để xử lý các thủ tục cấp phép nhiều tầng, quy trình phê duyệt lặp lại và yêu cầu hồ sơ chồng chéo. Gánh nặng hành chính này trở thành một “chi phí ẩn” đối với đổi mới sáng tạo, làm hạn chế khả năng tái đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) hoặc mở rộng cơ sở sản xuất tại Việt Nam.

Ngoài ra, việc triển khai chưa thống nhất các quy định giữa các cơ quan ban ngành, sự thay đổi liên tục của khung chính sách và tình trạng chậm hoàn thuế giá trị gia tăng (VAT) tiếp tục là những yếu tố gây bất ổn về tài chính và ảnh hưởng đến dòng vốn lưu động của doanh nghiệp.

Còn nhớ, hồi tháng 6/2025, Công ty Samsung SEHC (thuộc Tập đoàn Samsung) hoạt động trong lĩnh vực điện tử tại TPHCM, đã được hoàn lại hơn 582 tỷ đồng thuế giá trị gia tăng, sau khi lên tiếng than phiền về những khó khăn tài chính do chậm hoàn thuế kéo dài. Thời điểm đó, công ty này đã phải nhiều lần làm việc với các cơ quan chức năng và gửi kiến nghị chính thức, nhưng doanh nghiệp vẫn không được thông báo cụ thể về thời gian hoàn thuế. Vụ việc của nhà đầu tư này kéo dài trong suốt 3 năm.

Ông Bruno Jaspaert, Chủ tịch EuroCham, cho hay khi doanh nghiệp ngày càng phát triển với quy mô và mức độ phức tạp cao hơn, họ cũng cần một môi trường pháp lý tương xứng. Các doanh nghiệp cần quy định rõ ràng, thủ tục hành chính hiệu quả và việc thực thi nhất quán để yên tâm cam kết vốn trong dài hạn.

Với TPHCM, dòng vốn công nghệ chất lượng cao đang chảy mạnh vào và câu chuyện lúc này sẽ là TPHCM làm gì để nắm bắt, tận dụng nhằm lan tỏa tới doanh nghiệp nội địa, giữ lại được giá trị gia tăng cho kinh tế?

Bài 2: TPHCM đón sóng FDI thế hệ mới: Những “nam châm” hút dòng vốn chiến lược

Để thu hút vốn FDI tỷ USD vào TPHCM đòi hỏi sự đột phá về thể chế, hạ tầng, nhân lực, khả năng kết nối chuỗi giá trị và môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi nhất cho doanh nghiệp.

TPHCM đang chủ động kiến tạo các “nam châm” mới như Trung tâm tài chính quốc tế, Trung tâm công nghệ chiến lược, Khu thương mại tự do (FTZ)… nhằm đón dòng vốn FDI thế hệ mới. Và cần sớm đưa các cực tăng trưởng mới này đi vào hoạt động, lan tỏa tới kinh tế qua việc thu hút và giải ngân dòng vốn FDI một cách thực chất.

Những hạt nhân chiến lược

Ông Nguyễn Việt Long, Phó trưởng ban Khu Công nghệ cao TPHCM (SHTP), cho biết thành phố đang chuẩn bị sẵn sàng các không gian phát triển chuyên biệt nhằm giúp nhà đầu tư hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu. Nổi bật là Trung tâm Công nghệ chiến lược rộng hơn 52 ha tại SHTP, dự kiến sẵn sàng kêu gọi đầu tư trong quý IV/2026.

Trung tâm Công nghệ chiến lược sẽ có các phân khu chức năng như: Khu sản xuất dành riêng cho sản xuất công nghệ cao và các khu vực sản xuất thử nghiệm (16,25 ha); Khu dịch vụ tập trung vào Data Center, AI, thiết kế chip và dịch vụ lưu trú chuyên gia (24,38 ha); Khu đào tạo và nghiên cứu được định hướng trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu bán dẫn và công nghệ sinh học (7,21 ha); phần diện tích còn lại 5,08 ha bố trí hạ tầng kỹ thuật và công viên cây xanh.

Sau những thành công trong thu hút dòng vốn FDI, TPHCM đang chủ động kiến tạo các “nam châm” mới như trong đó có Trung tâm công nghệ chiến lược ở SHTP (Trong ảnh: Một góc nhà máy Samsung tại SHTP. Ảnh: Lam Giang).

Theo định hướng, đây sẽ là dự án hạt nhân trong chiến lược phát triển công nghệ cao của thành phố, với định hướng thu hút dự án thâm dụng vốn, thâm dụng công nghệ và có năng lực nghiên cứu phát triển cao. Sau Trung tâm Công nghệ chiến lược, dự án Công viên Khoa học rộng 194,8 ha dự kiến sẵn sàng kêu gọi đầu tư vào quý IV/2027. Đây là khu vực mở rộng của SHTP, được định hướng phát triển theo mô hình khu công nghệ cao thế hệ mới, tích hợp hạ tầng số hiện đại, hạ tầng xanh và các không gian nghiên cứu - đổi mới sáng tạo, hướng tới mục tiêu trung hòa carbon trước năm 2050.

“Các dự án chiến lược này được định vị là nền tảng quan trọng để thu hút các dòng vốn lớn vào những lĩnh vực ưu tiên cốt lõi như vi mạch bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu và công nghệ sinh học”, ông Long nói.

Một hạt nhân khác là Khu Thương mại tự do (FTZ) của TPHCM có quy mô hơn 4.100 ha, gắn với khu vực cảng Cái Mép Hạ. Đây được xem là mô hình tiên phong để thí điểm các thể chế vượt trội, hướng tới trở thành động lực tăng trưởng mới và nền tảng để TPHCM phát triển thành trung tâm kinh tế biển của khu vực Đông Nam Á.

Theo TS Lê Bá Chí Nhân, chuyên gia kinh tế, FTZ có khả năng thu hút FDI chất lượng cao vào các lĩnh vực logistics, công nghệ, tài chính, thương mại quốc tế và dịch vụ giá trị gia tăng. Khi kết nối với hệ thống cảng nước sâu, sân bay quốc tế, trung tâm tài chính và mạng lưới công nghiệp vùng Đông Nam Bộ, FTZ sẽ hình thành hệ sinh thái kinh tế có sức lan tỏa mạnh, thúc đẩy xuất nhập khẩu, logistics, vận tải biển, thương mại điện tử xuyên biên giới và các ngành công nghệ cao.

“Đây là những lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn hơn nhiều so với mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào gia công sản xuất truyền thống”, TS Nhân nhấn mạnh.

Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM đã thu hút dòng vốn cam kết khoảng 20 tỷ USD sau 6 tháng chính thức ra mắt (Ảnh: DT).

Dấu ấn nổi bật phải kể đến là Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM (VIFC-HCMC). Chỉ sau khoảng 6 tháng hoạt động kể từ ngày chính thức ra mắt, tổng vốn cam kết từ các nhà đầu tư, đối tác trong và ngoài nước vào VIFC-HCMC đã đạt khoảng 20 tỷ USD; các cấu phần nền tảng như tài chính hàng không, hệ sinh thái tài chính hàng hải từng bước được hình thành. Theo Chỉ số Trung tâm Tài chính toàn cầu (GFCI 39) năm 2026, TPHCM đã tăng tới 11 bậc, xếp thứ 84/120 trung tâm tài chính toàn cầu và đứng thứ ba khu vực Đông Nam Á.

Tránh để vốn FDI như là những “ốc đảo” kinh tế

Trao đổi với phóng viên Dân trí, PGS.TS Trần Hùng Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển công nghệ ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - Luật, cho rằng TPHCM đang đứng trước cơ hội lịch sử để đón đầu làn sóng FDI thế hệ mới. Trong bối cảnh dòng vốn FDI toàn cầu dịch chuyển mạnh mẽ từ sản xuất truyền thống sang công nghệ cao, AI và tài chính, TPHCM sở hữu ba lợi thế cạnh tranh cốt lõi.

Thứ nhất, vị thế trung tâm kết nối trong một nền kinh tế đang bứt phá. Việt Nam hiện được xem là “nền kinh tế kết nối” điển hình trong việc tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu. Với hạ tầng logistics định hướng xuất khẩu và hệ thống FTA rộng khắp, TPHCM là cửa ngõ tự nhiên cho các nhà đầu tư muốn thâm nhập thị trường khu vực.

Các tập đoàn công nghệ ở TPHCM đang trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng phần cứng và linh kiện liên quan đến AI (Bên trong nhà máy Intel ở SHTP. Ảnh: Nam Phong).

Thứ hai, nền tảng công nghệ sẵn có và tiềm năng AI. Việt Nam đang nổi lên như một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng phần cứng và linh kiện liên quan đến AI. TPHCM, với các khu công nghệ cao, đóng góp lớn vào tỷ trọng xuất khẩu 32% GDP liên quan đến AI trong năm 2025.

Thứ ba, tiềm năng trung tâm tài chính. Với việc xây dựng trung tâm tài chính quốc tế và lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán từ cận biên lên mới nổi, TPHCM có lợi thế đặc biệt để thu hút FDI vào lĩnh vực tài chính và công nghệ.

Tiềm năng là vậy nhưng bài toán lúc này là làm sao để dòng vốn FDI chảy vào thực chất, đáp ứng nhu cầu vốn của TPHCM và cả nước.

Như với trung tâm tài chính, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC, nhìn nhận phải giải một bài toán rất cụ thể: làm thế nào để dòng vốn quốc tế đến Việt Nam thuận lợi hơn, chi phí cạnh tranh hơn, với nhiều sản phẩm tài chính hơn và trong một môi trường mà nhà đầu tư quốc tế có thể tin tưởng…

Sản xuất thiết bị điện, điện tử tại nhà máy SEHC của Samsung ở TPHCM (Ảnh: Lam Giang).

Hiện, trung tâm tài chính ở TPHCM vẫn chờ đợi chuyển từ “khung pháp lý” sang “thị trường thực tế”. Bởi một trung tâm tài chính chỉ thực sự tồn tại khi có định chế hoạt động, có vốn được huy động, có sản phẩm được giao dịch và có các giao dịch xuyên biên giới được thực hiện. Cơ chế quản lý cũng phải đáng tin cậy, quy định minh bạch và có thể dự báo, thủ tục thuận lợi, cùng cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp chuẩn mực quốc tế. Từ đó mới thu hút được dòng vốn ngoại cam kết đổ vào và giải ngân thực chất.

“Thành công của VIFC-HCMC không chỉ được đo bằng số lượng thành viên hay những công trình được xây dựng, mà phải được đo bằng dòng vốn mới được đưa vào Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam huy động được vốn quốc tế, các sản phẩm mới được hình thành, các định chế toàn cầu hiện diện và đội ngũ nhân lực Việt Nam trưởng thành theo chuẩn quốc tế”, ông Huân nhìn nhận.

Một thực tế khác được PGS.TS Trần Hùng Sơn chỉ ra, là điểm nghẽn cốt lõi của mô hình tăng trưởng dựa vào FDI tại Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng là dòng vốn FDI như những “ốc đảo” kinh tế và chưa thực sự tạo ra hiệu ứng lan tỏa. Muốn đón sóng FDI thực chất, TPHCM cần tập trung tháo gỡ các nút thắt mang tính chiến lược.

Trong đó, cần gỡ nút thắt về thể chế để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và bảo đảm tính thượng tôn pháp luật. Một hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định và thực thi hợp đồng hiệu quả là điều kiện tiên quyết để các nhà đầu tư công nghệ cao yên tâm chuyển giao công nghệ.

“TPHCM cần cải cách các thủ tục hành chính, đặc biệt là hệ thống cấp phép kinh doanh theo hướng đơn giản hóa và dựa trên đánh giá rủi ro. Thay vì chỉ tập trung vào các ưu đãi thuế vốn không còn là ưu tiên hàng đầu của các nhà đầu tư lớn. Chú trọng vào việc tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng và giảm chi phí giao dịch cho cả doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa”, ông Sơn nói.

Tiếp tục hoàn thiện ưu đãi đầu tư, thuế cho doanh nghiệp FDI

Chia sẻ tại chương trình “Bàn tròn giữa chính quyền TPHCM và cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ” diễn ra mới đây tại San Francisco, Hoa Kỳ, nhiều doanh nghiệp FDI đã nêu những đề xuất, kiến nghị để tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư.

Ông Chris Camacho, Phó chủ tịch cấp cao phụ trách chiến lược phát triển địa điểm và mở rộng toàn cầu của Axon, cho biết TPHCM không chỉ là điểm đến tối ưu về chi phí mà còn sở hữu đội ngũ kỹ sư chất lượng cao cùng nguồn nhân lực dồi dào được đào tạo từ các trường đại học hàng đầu. Ông đề xuất tăng cường cơ chế hỗ trợ chuyên biệt dành cho doanh nghiệp nước ngoài trong quá trình tìm hiểu và triển khai đầu tư, đặc biệt thông qua sự kết nối chặt chẽ với các trường đại học nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và phát triển nhân tài.

Đại diện Axon khuyến nghị TPHCM tiếp tục hoàn thiện các cơ chế hỗ trợ dành cho chuyên gia và nhà quản lý nước ngoài, bao gồm chính sách về thuế thu nhập cá nhân, thị thực và các thủ tục liên quan.

Ông Tùng Bạch, Chủ tịch Ascenx Technologies, cho rằng bên cạnh việc thu hút các tập đoàn lớn, Việt Nam cần xây dựng cơ chế, chính sách ổn định, minh bạch và dễ tiếp cận đối với cả doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đặc biệt, các chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân cần được thiết kế theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều thành phần doanh nghiệp tham gia phát triển chuỗi cung ứng công nghệ cao.

Ông Chase Zunino, Giám đốc điều hành của C-Hawk, nêu kiến nghị TPHCM và các cơ quan chức năng tiếp tục hoàn thiện cơ chế triển khai các chính sách ưu đãi đầu tư và thuế theo hướng minh bạch, thống nhất và thuận lợi hơn đối với doanh nghiệp nước ngoài. Từ đó, góp phần nâng cao sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng bán dẫn yên tâm mở rộng sản xuất và đầu tư lâu dài tại Việt Nam.

Bài 3: Kỹ sư Việt tham gia tập đoàn bán dẫn toàn cầu, đóng góp hàng trăm triệu USD

TPHCM cần trở thành “cứ điểm” của dòng vốn FDI chất lượng cao, nơi các tập đoàn toàn cầu mở rộng đầu tư và chuyển giao công nghệ, kết nối doanh nghiệp Việt vào chuỗi giá trị.

Chưa tới 3 năm kể từ khi Tập đoàn công nghệ Marvell thành lập chi nhánh ở Việt Nam, kỹ sư Việt Nam đã trực tiếp tham gia các dự án công nghệ mới như chip điều khiển lưu trữ dữ liệu và chip kết nối tốc độ cao trong các trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo (AI)… TS Lê Quang Đạm, Tổng Giám đốc Marvell Technology Việt Nam, cho hay đây là những thành phần quan trọng giúp các bộ vi xử lý của NVIDIA có thể vận hành, bảo đảm việc chuyển đổi và truyền tải dữ liệu giữa các chip, trung tâm dữ liệu và trên phạm vi toàn cầu.

Nâng tầm năng lực qua dòng vốn ngoại

Marvell Việt Nam hiện là trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) lớn thứ ba của tập đoàn trên toàn cầu, chỉ sau Mỹ và Ấn Độ, vượt qua cả các chi nhánh kỳ cựu tại Israel, Canada hay Singapore. Năm 2025, tập đoàn này đạt doanh thu gần 8,2 tỷ USD với tổng nhân sự khoảng 8.000 người. Tính trung bình, mỗi nhân viên đóng góp khoảng 1 triệu USD. Như vậy, với quy mô hơn 600 kỹ sư hiện tại, văn phòng Việt Nam đóng góp khoảng 600 triệu USD vào tổng doanh thu của tập đoàn mẹ. Đây là một con số không nhỏ.

Câu chuyện của những kỹ sư Việt ở Marvell Technology Việt Nam không còn là ngoại lệ, mà đang ngày càng được nhân rộng từ sự lan tỏa của dòng vốn FDI chảy vào TPHCM nói riêng và cả nước.

Các kỹ sư người Việt làm việc tại Marvell Việt Nam (Ảnh: Lê Tỉnh).

“Marvell có những công nghệ và sản phẩm giúp kết nối điện và quang học với tốc độ cao nhất, độ trễ thấp nhất và tiết kiệm năng lượng nhất. Những dự án như vậy không phải kỹ sư nào trên thế giới cũng có thể làm được, nhưng ở Việt Nam, chúng tôi đã được trao cơ hội”, ông Đạm nói.

Theo TS Lê Quang Đạm, dù Việt Nam còn khá khiêm tốn trên bản đồ bán dẫn thế giới nếu so với Ấn Độ hay Trung Quốc, nhưng trong khu vực Đông Nam Á, vị thế đang dần được cải thiện và được nhiều tập đoàn thiết kế vi mạch lớn đánh giá là điểm đến tiềm năng. Việt Nam có ba lợi thế đáng chú ý, trong đó nổi bật là nguồn nhân lực trẻ, với học sinh, sinh viên yêu thích các lĩnh vực STEM và quan tâm nhiều đến công nghệ cao, AI, vi mạch bán dẫn...

Là một trong những kỳ lân công nghệ của Việt Nam, Tập đoàn VNG đang theo đuổi chiến lược AI có chủ quyền trong dài hạn, tập trung xây dựng hạ tầng AI tại Việt Nam. Từ đó, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và nuôi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao. AI cũng được đẩy mạnh ứng dụng trên toàn hệ sinh thái, đặc biệt ở các nền tảng có lượng người dùng lớn.

Thu hút FDI không còn là câu chuyện của quy mô vốn. Với TPHCM, vấn đề quan trọng hơn là làm sao để dòng vốn nước ngoài tạo ra giá trị lớn hơn cho nền kinh tế, giúp doanh nghiệp trong nước nâng năng lực và từng bước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bởi thực tế thời gian qua, dù đã có nhiều chính sách liên kết giữa khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, nhưng bức tranh là chưa như kỳ vọng.

Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Đỗ Phước Tống, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Cơ khí Duy Khanh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí - điện TPHCM, nói rằng thực tế doanh nghiệp Việt tham gia vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI vẫn còn hạn chế. Bên cạnh điểm yếu nội tại của doanh nghiệp Việt, còn có yếu tố là khi các tập đoàn FDI lớn vào Việt Nam, họ thường kéo theo hàng loạt doanh nghiệp FDI nhỏ để phục vụ chuỗi cung ứng của mình. Doanh nghiệp Việt phải cạnh tranh trực tiếp với những doanh nghiệp này.

Trước đây, khi những tập đoàn như Intel, Samsung hay các doanh nghiệp lớn khác vào Việt Nam, TPHCM từng có nhiều chính sách khuyến khích để tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, những cam kết đó vẫn còn chung chung, chưa có nội dung cụ thể.

Thực tế, các doanh nghiệp FDI vừa và nhỏ khi sang Việt Nam sản xuất, tham gia vào chuỗi cung ứng của những tập đoàn lớn cũng được tính vào tỷ lệ nội địa hóa, cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp nội địa.

Theo ông Tống, trong các lĩnh vực công nghệ cao, chip bán dẫn, doanh nghiệp cơ khí chính xác của Việt Nam vẫn có cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, xét trên góc độ cạnh tranh, doanh nghiệp Việt đang yếu thế so với các doanh nghiệp FDI cùng ngành.

“Doanh nghiệp FDI khi sang Việt Nam thường đã có sẵn khách hàng lớn trong chuỗi cung ứng của mình. Đây là những khách hàng có quan hệ theo chuỗi từ trước. Khi qua đầu tư, doanh nghiệp FDI được hưởng các chính sách ưu đãi của Chính phủ nước họ và cả ưu đãi khi đầu tư vào Việt Nam. Vậy là họ có lợi thế về thị trường và cả chính sách ưu đãi, doanh nghiệp Việt rất khó cạnh tranh nếu chỉ dựa vào nguồn lực hiện có”, ông Tống nêu.

Khơi thông liên kết, phá vỡ “nền kinh tế kép”

Theo nhiều chuyên gia, để xóa rào cản dòng vốn FDI như là những “ốc đảo” kinh tế và lan tỏa tới khu vực doanh nghiệp nội địa, TPHCM cần tập trung tháo gỡ nút thắt chiến lược. Cụ thể là khơi thông liên kết doanh nghiệp để phá vỡ “nền kinh tế kép”.

Có một thực trạng đang tồn tại là “nền kinh tế kép” - khi nơi khu vực FDI phát triển mạnh mẽ nhưng gần như tách biệt hoàn toàn với khu vực doanh nghiệp trong nước vốn còn phân mảnh và năng suất thấp. Để khắc phục, TPHCM cần triển khai các chương trình phát triển nhà cung ứng và các nền tảng kết nối trực tiếp giữa các tập đoàn đa quốc gia với doanh nghiệp nội địa. Thay vì chỉ thực hiện các khâu lắp ráp giá trị thấp, thành phố phải khuyến khích doanh nghiệp Việt tham gia cung ứng đầu vào trung gian, giúp nâng cao giá trị gia tăng được giữ lại trong nước.

Vị thế ngành bán dẫn của Việt Nam đang dần cải thiện (Ảnh: MISUMI).

TS Hà Thị Cẩm Vân, Chủ nhiệm cấp cao bộ môn Kinh tế, Khoa Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam, cho hay các nghiên cứu về FDI tại Việt Nam chỉ rõ tác động tích cực của FDI không tự động xuất hiện mà phụ thuộc vào năng lực hấp thụ của doanh nghiệp nội địa, chất lượng thể chế và mức độ liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp Việt.

Do đó, cần nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp Việt thông qua hỗ trợ đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, nghiên cứu và phát triển, quản trị. Cần tăng cường hợp tác đào tạo giữa doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước và trường đại học thông qua thực tập, phòng thí nghiệm dùng chung và trao đổi kỹ sư.

TPHCM cần tiếp tục cải thiện thể chế và môi trường đầu tư theo hướng minh bạch, ổn định và dễ dự đoán. Với các dự án công nghệ cao, nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến ưu đãi thuế mà còn cần hạ tầng số, điện năng ổn định, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế xử lý vướng mắc nhanh chóng.

Thành phố cần chuyển từ các hoạt động kết nối mang tính sự kiện sang chương trình phát triển nhà cung cấp theo từng ngành.

“Doanh nghiệp FDI nên công bố rõ nhu cầu về linh kiện, phần mềm, logistics và dịch vụ kỹ thuật. Từ đó, thành phố lựa chọn doanh nghiệp Việt có tiềm năng để hỗ trợ về công nghệ, quản trị chất lượng, chứng nhận quốc tế và tài chính. Các liên kết dọc này có thể giúp nâng cao năng suất và thu hẹp khoảng cách năng lực, nhưng chỉ khi doanh nghiệp nội địa đáp ứng được các tiêu chuẩn cần thiết”, TS Vân đề xuất.

Đại diện Tập đoàn VNG đề xuất việc phát triển nguồn nhân lực thông qua liên kết “ba nhà” giữa doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu, đi kèm cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), sẽ mở ra không gian để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ. Khi thể chế, hạ tầng, nhân lực và khả năng tiếp cận nguồn vốn được cải thiện đồng bộ, TPHCM sẽ vừa thu hút thêm các dự án công nghệ chất lượng cao, vừa hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nơi doanh nghiệp Việt có cơ hội trở thành đối tác phát triển cùng các tập đoàn và chủ đầu tư quốc tế, thay vì chỉ là đơn vị cung ứng dịch vụ.

Thước đo thành công nằm ở chất lượng FDI

Ông Richard Barnsley, Giám đốc Khối Ngân hàng Toàn cầu, Ngân hàng HSBC Việt Nam, cho rằng Việt Nam đã nhìn rõ giới hạn của mô hình thu hút FDI dựa vào sản xuất và xuất khẩu. Giai đoạn tới, vấn đề không còn là thu hút bao nhiêu vốn, mà là tạo ra và giữ lại bao nhiêu giá trị từ dòng vốn đó. Tinh thần này được thể hiện trong Nghị quyết 10-NQ/TW, được xem như bước chuyển sang giai đoạn “Đổi Mới 2.0”. Nếu trước đây là thu hút đầu tư, thì nay là giữ chân và khai thác hiệu quả, với mục tiêu không chỉ là vốn mà là năng lực, gồm công nghệ, tri thức và đổi mới sáng tạo.

Theo ông Richard Barnsley, thước đo thành công sẽ nằm ở chất lượng FDI: có mang theo công nghệ hay không, có giúp phát triển nguồn nhân lực hay không, có thúc đẩy R&D và giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu hay không. Đây mới là yếu tố quyết định tăng trưởng dài hạn.

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng tái cấu trúc và bất định gia tăng, các doanh nghiệp ưu tiên những điểm đến ổn định, dễ dự báo và có năng lực đổi mới. Đây sẽ là lợi thế cạnh tranh then chốt của Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng trong việc thu hút FDI chất lượng cao.

Bài 4: TPHCM đón đầu làn sóng FDI thế hệ mới như thế nào?

TPHCM không chỉ hướng tới thu hút thêm FDI công nghệ cao mà còn muốn biến dòng vốn này thành công nghệ, năng lực R&D và cơ hội để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong bối cảnh TPHCM chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang ưu tiên các dự án công nghệ cao, phóng viên Dân trí đã trao đổi với GS.TS Nguyễn Kỳ Phùng, Trưởng ban Quản lý Khu Công nghệ cao TPHCM (SHTP), về lợi thế cạnh tranh, lộ trình phát triển và kỳ vọng đón dòng vốn này. 

TPHCM đang chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang lựa chọn các dự án công nghệ cao, AI, bán dẫn, nghiên cứu và phát triển (R&D)... Theo ông, đâu là những lợi thế cạnh tranh giúp của thành phố để tạo sự khác biệt so với các trung tâm công nghệ trong khu vực?

GS.TS Nguyễn Kỳ Phùng, Trưởng Ban Quản lý Khu Công nghệ cao tại một cuộc họp phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (Ảnh: SHTP).

- TPHCM đang có lợi thế rất khác so với trước đây. Nếu trước đây cạnh tranh chủ yếu bằng chi phí và ưu đãi đầu tư, nay lợi thế nằm ở khả năng xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh và môi trường đầu tư đủ tin cậy cho các ngành công nghệ chiến lược.

Trước hết, là không gian phát triển mới. Sau khi mở rộng địa giới, thành phố hội tụ các cấu phần của một cực tăng trưởng hiện đại, từ công nghiệp, cảng biển, logistics, tài chính đến dịch vụ, kết nối bởi tuyến đường Vành đai 3, các tuyến cao tốc và sân bay Long Thành. Khu Công nghệ cao TPHCM (SHTP) vừa được Chính phủ phê duyệt mở rộng gần 195 ha, tạo quỹ đất đón các dự án AI, bán dẫn, trung tâm dữ liệu và R&D quy mô lớn. Đây là lợi thế không nhiều trung tâm công nghệ trong khu vực có được.

Nhà máy của Tập đoàn Intel tại Khu Công nghệ cao TPHCM (Ảnh: Nam Phong).

Thứ hai, là nền tảng công nghệ đã được kiểm chứng. Sau gần 24 năm phát triển, SHTP thu hút 165 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư khoảng 13,86 tỷ USD. Sự hiện diện và liên tục mở rộng đầu tư của Intel, Samsung, Nidec, Jabil, Schneider Electric… là minh chứng cho năng lực của TPHCM, cho thấy thành phố không chỉ thu hút được nhà đầu tư mà còn tạo niềm tin để các tập đoàn công nghệ cao gắn bó, mở rộng hoạt động dài hạn.

Thứ ba, là hạ tầng phục vụ nền kinh tế số, yếu tố mang tính quyết định hiện nay. Với AI, bán dẫn và trung tâm dữ liệu, nhà đầu tư cần quỹ đất, nguồn điện ổn định, hạ tầng số và năng lực vận hành lâu dài. Vì vậy, TPHCM chủ động chuẩn bị hạ tầng ngay từ khâu quy hoạch.

Quy hoạch phân khu 1/2000 dự báo nhu cầu điện của Khu Công nghệ cao đến năm 2040 khoảng 1.657 MVA, tương đương hơn 2.000 MW; đồng thời nâng công suất các trạm 220 kV, xây dựng thêm trạm 110 kV và bố trí quỹ đất cho trung tâm dữ liệu với mật độ cấp điện tới 30 MW/ha. Quan điểm của chúng tôi là chủ động chuẩn bị hạ tầng trước để đón nhà đầu tư.

TPHCM cũng chuyển sang lựa chọn nhà đầu tư theo các tiêu chuẩn phát triển, gồm suất đầu tư, hàm lượng công nghệ, R&D, công trình xanh, năng lượng tái tạo và lộ trình phát thải ròng bằng "0". Trong bối cảnh thuế tối thiểu toàn cầu thu hẹp dư địa ưu đãi, một “luật chơi” rõ ràng, minh bạch và ổn định sẽ tạo sức hút lớn hơn.

Quan trọng hơn, thành phố hướng tới thu hút toàn bộ chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo, từ nghiên cứu, thiết kế, phát triển công nghệ, sản xuất thử nghiệm đến thương mại hóa; hình thành hệ sinh thái liên kết doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp công nghệ Việt Nam, trường đại học và viện nghiên cứu. Đây là nền tảng để TPHCM tạo khác biệt và đón đầu làn sóng FDI thế hệ mới.

Trung tâm Công nghệ Chiến lược và Công viên Khoa học có gì để trở thành những “nam châm” hút các tập đoàn công nghệ toàn cầu?

- Trước hết, Trung tâm Công nghệ Chiến lược và Công viên Khoa học là hai dự án có vai trò khác nhau nhưng bổ trợ trong cùng một hệ sinh thái. Trung tâm Công nghệ Chiến lược quy mô 52,92 ha, nằm trong Khu Công nghệ cao hiện hữu, dự kiến kêu gọi đầu tư từ quý IV/2026, gồm khu sản xuất công nghệ cao và sản xuất thử nghiệm; khu dịch vụ cho trung tâm dữ liệu, AI, thiết kế vi mạch và lưu trú chuyên gia; khu đào tạo - nghiên cứu - ươm tạo, định hướng thành trung tâm đổi mới sáng tạo về bán dẫn và công nghệ sinh học…

Trong khi đó, Công viên Khoa học gần 195 ha tại phường Long Phước, dự kiến triển khai từ quý IV/2027, được định hướng thành khu công nghệ cao thế hệ mới, tích hợp hạ tầng số, hạ tầng xanh và hướng tới trung hòa carbon trước năm 2050.

Các phân khu được tổ chức thành chuỗi nghiên cứu - thử nghiệm - sản xuất - thương mại hóa, rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến dây chuyền sản xuất và đưa công nghệ ra thị trường.

Khu Công nghệ cao TPHCM (SHTP) vừa được Chính phủ phê duyệt mở rộng gần 195 ha, tạo quỹ đất đón các dự án AI, bán dẫn, trung tâm dữ liệu và R&D quy mô lớn (Ảnh: Hải Long).

 Một trọng tâm là hạ tầng nghiên cứu dùng chung, gồm phòng sạch, dây chuyền sản xuất thử nghiệm, phòng thí nghiệm đo kiểm, hạ tầng tính toán hiệu năng cao phục vụ AI và các nền tảng nghiên cứu. Doanh nghiệp có thể thuê, chia sẻ hạ tầng thay vì tự đầu tư toàn bộ, qua đó giảm chi phí và tạo điều kiện cho doanh nghiệp công nghệ Việt Nam phát triển.

Thành phố cũng sẽ lựa chọn nhà đầu tư theo tiêu chí công khai, định lượng, ưu tiên công nghệ cao và công nghệ chiến lược, gắn với yêu cầu về suất đầu tư, R&D, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ. Với trung tâm dữ liệu, thành phố khuyến khích công nghệ tiên tiến như làm mát bằng chất lỏng và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về hiệu quả sử dụng năng lượng.

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phải có dòng chảy liên tục từ nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất đến thị trường; Nhà nước đầu tư trước vào hạ tầng nền tảng mà doanh nghiệp khó tự thực hiện. Đây là định hướng để TPHCM không chỉ thu hút vốn đầu tư mà còn trở thành nơi sản sinh công nghệ, nuôi dưỡng doanh nghiệp công nghệ và hình thành các chuỗi giá trị công nghệ cao bền vững.

Chiến lược là ưu tiên nhà đầu tư dẫn dắt trong từng lĩnh vực, từ đó hình thành mạng lưới doanh nghiệp vệ tinh, trung tâm nghiên cứu và đối tác chuỗi cung ứng. Công viên Khoa học sẽ là đầu mối liên kết doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu tại TPHCM, vùng Đông Nam Bộ. Đồng thời triển khai sandbox để công nghệ mới được kiểm chứng, hoàn thiện và thương mại hóa nhanh hơn.

Vậy giải pháp gì để khu vực FDI có thể tăng cường liên kết, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu?

- Đây là vấn đề chúng tôi đặc biệt quan tâm. Hiệu ứng lan tỏa từ FDI sang doanh nghiệp trong nước luôn là kỳ vọng lớn, nhưng thực tế số doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia còn khiêm tốn. Nguyên nhân là nhiều doanh nghiệp FDI mang theo hệ thống nhà cung cấp toàn cầu, trong khi doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và năng lực sản xuất.

Thời gian tới, chúng tôi sẽ gắn trách nhiệm và tạo điều kiện để sự lan tỏa thực sự diễn ra. Cam kết về chuyển giao công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực và phát triển doanh nghiệp trong nước sẽ là tiêu chí quan trọng khi lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, với lộ trình, chỉ tiêu và cơ chế giám sát cụ thể. Ưu tiên công nghệ thuộc danh mục công nghệ chiến lược và công nghệ khuyến khích chuyển giao.

SHTP cũng giảm rào cản gia nhập bằng cách mở rộng nhà xưởng xây sẵn, văn phòng và hạ tầng dùng chung, giúp doanh nghiệp Việt tham gia sản xuất mà không phải bỏ vốn đầu tư ban đầu quá lớn.

Quan trọng hơn, thành phố chuyển từ các hoạt động kết nối cung cầu ngắn hạn sang chương trình phát triển nhà cung cấp dài hạn. Các tập đoàn FDI công bố nhu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật; SHTP phối hợp với trường đại học, viện nghiên cứu hỗ trợ doanh nghiệp Việt nâng cao quản trị, cải tiến quy trình và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Khi đạt yêu cầu, doanh nghiệp có cơ hội trở thành nhà cung cấp chính thức trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Một góc Khu Công nghệ cao TPHCM (Ảnh: Ngọc Tân).

Nhiều địa phương trong khu vực đang cạnh tranh quyết liệt để thu hút FDI công nghệ cao bằng các chính sách ưu đãi và hạ tầng hiện đại. TPHCM sẽ làm gì để không chỉ thu hút được các dự án lớn mà còn giữ chân nhà đầu tư, khuyến khích họ gắn bó lâu dài?

- Khi thuế tối thiểu toàn cầu được áp dụng, cạnh tranh thu hút FDI đã thay đổi căn bản. Dư địa cạnh tranh bằng miễn, giảm thuế không còn nhiều, nên các tập đoàn công nghệ quan tâm hơn đến thời gian triển khai dự án, độ tin cậy của hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và tính ổn định của chính sách. Đây cũng là những yếu tố TPHCM đang tập trung cải thiện.

Quỹ Hỗ trợ đầu tư của Chính phủ sẽ hỗ trợ các dự án quy mô lớn về đào tạo nhân lực, R&D và đầu tư tài sản cố định. Với dự án thiết kế vi mạch, doanh nghiệp được miễn điều kiện về quy mô vốn nhưng phải cam kết sau 5 năm sử dụng tối thiểu 300 kỹ sư, cán bộ quản lý người Việt Nam và hằng năm hỗ trợ đào tạo ít nhất 30 kỹ sư chất lượng cao. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước, thành phố tập trung vào các công cụ như vốn mồi cho quỹ đầu tư mạo hiểm, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ và chương trình phát triển nhà cung cấp.

Trước hết, thành phố đẩy nhanh thủ tục, giảm chi phí gia nhập thị trường thông qua cơ chế "thủ tục đầu tư đặc biệt" và mô hình một cửa tại chỗ do Ban Quản lý SHTP thực hiện. Cơ chế này đồng hành với nhà đầu tư từ cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quy hoạch, xây dựng, môi trường đến vận hành và mở rộng dự án. Trong 6 tháng đầu năm 2026, 4 dự án chiến lược với tổng vốn hơn 1,23 tỷ USD đã được cấp giấy chứng nhận.

Thứ hai, thành phố xây dựng hạ tầng đồng bộ, có tính tiên liệu. Quy hoạch phân khu 1/2000 giúp nhà đầu tư xác định ngay các chỉ tiêu quy hoạch - kiến trúc từng lô đất, hạn chế tình trạng dự án phải chờ vì vướng quy hoạch. TPHCM cũng công bố lộ trình phát triển hạ tầng điện, nước, viễn thông và xử lý nước thải đến năm 2040, giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch đầu tư, mở rộng dài hạn.

Thứ ba, phương thức hỗ trợ chuyển từ ưu đãi thuế sang hỗ trợ trực tiếp các khoản chi tạo năng lực cạnh tranh lâu dài. Quỹ Hỗ trợ đầu tư có thể hỗ trợ tối đa 50% chi phí đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Việt Nam; các trung tâm R&D trong lĩnh vực bán dẫn và AI có thể được hỗ trợ đầu tư ban đầu tới 50% nếu đáp ứng điều kiện. Ban Quản lý Khu Công nghệ cao là đầu mối hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ, giúp doanh nghiệp tiếp cận chính sách thuận lợi hơn. Đây cũng là động lực để doanh nghiệp chuyển từ sản xuất đơn thuần sang R&D, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ tại TPHCM.

Nguồn nhân lực và chất lượng sống quyết định khả năng phát triển bền vững của các trung tâm R&D. Thành phố tăng cường liên kết Nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để phát triển đội ngũ kỹ sư cho các ngành công nghệ chiến lược; đồng thời quy hoạch quỹ đất lưu trú chuyên gia tại Trung tâm Công nghệ Chiến lược, phát triển nhà ở cho người lao động và không gian đô thị hiện đại, kết nối thuận tiện bằng giao thông công cộng.

Tuy nhiên, cách hiệu quả nhất để thu hút đầu tư mới là giữ chân và giúp nhà đầu tư hiện hữu mở rộng hoạt động. Phần lớn dòng vốn FDI tăng thêm đến từ các doanh nghiệp đã đầu tư thành công. Tập đoàn Techtronic Industries (TTI) vừa đầu tư thêm 81 triệu USD cho Nhà máy Techtronic Tools Việt Nam, nâng tổng vốn tại Khu Công nghệ cao lên hơn 730 triệu USD.

Cuối cùng, các tập đoàn công nghệ cần khả năng dự báo và sự ổn định của chính sách. Dự án công nghệ cao thường có vòng đời 10-20 năm, nên nhà đầu tư cần quy hoạch rõ ràng, tiêu chí minh bạch và cam kết được thực hiện nhất quán. Đây cũng là lợi thế cạnh tranh bền vững của TPHCM trong thu hút và giữ chân dòng vốn FDI thế hệ mới.

Hiệu quả lan tỏa phải được đo lường qua số doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, số kỹ sư Việt Nam tại các trung tâm R&D và số công nghệ được chuyển giao. Mục tiêu cuối cùng không phải thu hút thêm bao nhiêu vốn, mà là tạo ra bao nhiêu năng lực công nghệ mới cho doanh nghiệp Việt Nam và nền kinh tế.

Xin cảm ơn ông!

Bài, ảnh: Lê Tỉnh / Báo Dân trí

Link Nguồn: 

Bài 1: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/intel-samsung-bosch-va-nhung-ong-lon-cong-nghe-dang-lam-gi-o-tphcm-20260812202224226.htm 

Bài 2: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/tphcm-don-song-fdi-the-he-moi-nhung-nam-cham-hut-dong-von-chien-luoc-20260813193350059.htm 

Bài 3: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/ky-su-viet-tham-gia-tap-doan-ban-dan-toan-cau-dong-gop-hang-tram-trieu-usd-20260814222211798.htm

Bài cuối: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/tphcm-don-dau-lan-song-fdi-the-he-moi-nhu-the-nao-20260815202246546.htm